26/06/2018 -

Các cộng đoàn

144
Đức ái huynh đệ
ĐỨC ÁI HUYNH ĐỆ
Ánh Nguyệt                           

Trải qua biết bao thăng trầm trong dòng lịch sử suốt bốn mươi bốn bốn năm, Hội Dòng của tôi vẫn mang trong mình dòng chảy của Giáo Hội. Thật vậy, cùng với những thao thức, những trăn trở, những niềm vui và những đau khổ, cũng không thiếu nước mắt và nụ cười xen lẫn những thành công và thất bại, những thách đố và trông đợi, ở chính mình, ở nơi những nhà đào tạo, ở nơi nỗ lực và cố gắng của chị em, nhưng Đa Minh Rosa Lima vẫn vững bước hành trình để hoàn thành sứ mạng và lý tưởng của đời sống thánh hiến. Đó là sống một tình yêu trọn vẹn hiệp nhất trong tình yêu của Ba Ngôi. Chắc hẳn, sức sống của Hội Dòng tôi ngày hôm nay là do ân ban đến từ Tình Yêu Thiên Chúa. Hơn bao giờ hết, tôi xin chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ những hồng ân lớn lao mà chính Chúa ngang qua Giáo Hội đã dành tặng cho Hội Dòng của tôi. Giờ đây, tôi muốn ghi nhớ dấu ấn của Hội Dòng qua dấu ấn đời sống huynh đệ như là mối dây liên kết chị em chúng tôi trong tình yêu của Đức Kitô hầu mưu cầu lợi ích cho tha nhân và Giáo Hội.
 
  1. Sự hiện diện của Đức Kitô trong tha nhân

Mỗi người được Thiên Chúa tạo dựng không phải chỉ sống cho riêng mình, nhưng được mời gọi sống tương giao với người khác. Theo cái nhìn của đức tin, khi ta tiếp xúc với tha nhân chính là gặp gỡ Đức Kitô.

Lật giở những trang Kinh Thánh, ta thấy sách Tông Đồ Công Vụ ghi lại: các tín hữu đầu tiên coi tất cả là của chung và họ rất mực yêu thương nhau. Họ đem tất cả tài sản đặt dưới chân các tông đồ để phân phát cho những ai có nhu cầu. Chị em chúng tôi cũng đã khao khát và thực hiện những nếp sống của cộng đoàn tiên khởi theo sách Công Vụ Tông. Chúng tôi đã nắm tay nhau cùng song hành trong đời sống thánh hiến, cùng nhau thực hiện sứ mạng truyền giáo cho lương dân và giáo dục các thanh thiếu niên được lãnh nhận trong ngày thành lập dòng 01/01/1973
 

Trong đời sống cộng đoàn, chúng ta không bao giờ phải bước đi một mình, những thành công chúng ta có được luôn có sự trợ giúp của người khác chứ sức riêng mình rất khó có thể làm được. Mỗi người chúng ta không thể sống mà không có sự gắn kết, mối liên hệ với những người xung quanh như bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp. Vì thế ta đừng bao giờ ích kỷ và chỉ biết giữ lại cho riêng mình, cũng đừng tự mãn kiêu căng về những khả năng mà ta có được “Ai tự hào hãy tự hào trong Chúa” (2Cr 10,17). Bởi tất cả những gì tôi có và làm được cũng đều do ân ban của Thiên Chúa, “một con én chẳng làm nên nổi mùa xuân”.

Vì vậy, mỗi người chúng ta không thể sống đơn độc trong cộng đoàn. Mỗi người trong cộng đoàn cũng “cần có nhau” để nâng đỡ, đồng hành, cùng giúp nhau thăng tiến trong cuộc sống.
 
  1. Mối dây liên kết hiệp thông

Từ nguyên thủy Thiên Chúa đã tạo dựng con người và Thiên Chúa phán: “Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” (x. St 2,18). Chẳng phải Thiên Chúa tạo dựng Ađam và ban cho ông có một trợ tá là Evà để đồng hành, an ủi, cũng như chia ngọt sẻ bùi cùng ông. Mặt khác, nhân vị chính là và phải là nguyên lý, chủ thể và cứu cánh của mọi định chế xã hội, bởi vì tự bản chất nhân vị cần đến đời sống xã hội[1]. Hơn nữa, tất cả chúng ta đều là một thân thể trong Đức Kitô và mỗi nguời là một bộ phận. Thánh Phaolô đã so sánh các bộ phận trong một thân thể tuy nhiều nhưng chỉ là một, các bộ phận liên kết với nhau bổ sung cho nhau (x. 1Cr 12,12-30). Trong đời sống tu trì cũng thế, Thiên Chúa đã đặt để cho mỗi người một khả năng riêng. Người thì có tài lãnh đạo, kẻ thì được ơn ngoại giao, kẻ khác thì có biệt tài cầm kỳ thi họa. Mỗi người đều được Thiên Chúa phú ban cho những nén bạc khác nhau tùy theo khả năng của người đó. Người được mười nén thì không dư, kẻ được một nén thì cũng chẳng thấy thiếu. Nhưng mỗi người sẽ bổ sung cho nhau. Bởi lẽ, sự khác biệt, sự hiện diện của người khác sẽ bổ túc cho khiếm khuyết của bản thân ta. Do vậy, trong cộng đoàn tu trì, tha nhân không phải là đối thủ của ta nhưng là người bổ túc cho những cái còn thiếu trong ta để ta phát triển và hoàn thiện mình hơn.

Trong đời sống cộng đoàn, ta cần tôn trọng vị trí, vai trò của nhau. Vì Chúa ban cho ta là anh chị em của nhau và nhiệm vụ của ta là yêu thương anh chị em như chính mình. Người tu sĩ không có bất kỳ lý do gì để loại trừ anh chị em của mình bởi vì nền tảng của Kitô hữu là sống hòa hợp với người khác. Cho dù có mâu thuẫn bất đồng trong đời sống hằng ngày nhưng vẫn sống cùng nhau, chia sẻ trách nhiệm và sứ vụ. Dù ta có quan điểm tư tưởng khác nhau nhưng chính Thiên Chúa đã liên kết chúng ta lại trong cộng đoàn, ta không có quyền chọn lựa.

Theo Công Đồng Vaticano II: “Thiên Chúa muốn rằng tất cả mọi người phải làm thành một gia đình và đối xử với nhau bằng tình huynh đệ”[2]. Khi con người sống hiệp thông và liên đới với nhau trong chân lý và tình yêu thì con người đã sống theo những điều Kinh Thánh dạy là mến Chúa và yêu người. Thật vậy, chúng ta không thể nói rằng chúng ta yêu mến Thiên Chúa nếu chúng ta không quan tâm, giúp đỡ và yêu thương anh chị em đồng loại (x. 1Ga 4,20-21; Rm 14,9-10). Nhờ vậy, mỗi người càng dễ xích lại gần nhau hơn, lệ thuộc vào nhau hơn, cũng như thế giới đang ngày càng hiệp nhất lại.

Theo hiến chế:“con người có bản tính xã hội, theo ý Đấng Tạo Hóa: con người đều bởi một Chúa, đều là một loại, đều có chung một cùng đích”[3]. Mặt khác, “Thiên Chúa đã tạo nên con người không phải để sống riêng rẽ nhưng để tạo nên sự liên kết xã hội… Bởi thế ngay từ khởi đầu lịch sử cứu độ chính Ngài đã chọn con người, không phải mang tính cách cá nhân, nhưng như những phần tử của một cộng đoàn”[4]

Thực vậy, con người sống trong xã hội không ai là sống đơn độc lẻ loi. Nhưng con người sống hiệp thông với Thiên Chúa và các nhân vị khác để tạo tình huynh đệ, để liên đới, hợp tác và cùng giúp đỡ nhau để phát triển. Vì “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” hay “Anh em như thể tay chân, rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần”.
 
  1. Chứng nhân đích thực trong tình yêu

Thiên Chúa không đòi hỏi nơi tôi những điều vượt quá khả năng của mình. Giống như Thánh Phêrô, Thiên Chúa cũng mong tôi có được một tình yêu tuyệt đối vô vị lợi nhưng Ngài không bắt tôi phải bằng mọi giá có được điều đó. Tuy nhiên, Người đã đi bước trước hạ mình xuống tới tột cùng để tôi có thể đến được với Người qua mầu nhiệm Nhập Thể và qua chính cái chết của Người trên thập giá. Thiên Chúa yêu thương tôi Ngài đón nhận tôi vì tình yêu và đã nâng tôi lên hàng bạn hữu của Ngài (x. Ga 15,15). Tình yêu Thiên Chúa đã trở nên sức mạnh giúp cho thánh Phaolô thắng vượt những khó khăn khi bị người ta sỉ nhục, chống đối, vu khống và dám đối diện cái chết: Không ai có thể tách tôi ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô (x. Rm 8,39). Thánh nhân đã thâm tín rằng: “Đối với tôi sống là Đức Ki-tô và chết là một mối lợi” (x. Pl 1,21). Vì Đức Kitô thánh nhân có thể chấp nhận thiệt thòi và coi tất cả là rác rưởi để được sống gắn bó với chính Đức Kitô (x. Pl 3,7-8). Chúa Kitô đã trở thành nguồn sống duy nhất trong cuộc đời của thánh nhân.

Phải chăng chỉ có những thành công lớn lao mới được đánh giá cao, điều này  không đúng chút nào vì Thiên Chúa chỉ cần ta làm những việc tầm thường nhưng đặt vào đó một tình yêu là đủ. Có thể nói, một tình yêu đơn sơ tầm thường trước mặt người đời của thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã trở nên cao cả vĩ đại trước mặt Chúa: “Giữa lòng Giáo Hội con sẽ là tình yêu”. Thánh nữ đã khám phá ra con đường tình yêu bằng con đường thơ ấu thiêng liêng như trẻ thơ nép mình trong vòng tay người mẹ. Thánh nữ gửi trọn tình yêu và niềm tín thác nơi sự quan phòng của Thiên Chúa.

Mẫu gương sống tình yêu ta cần nhắc đến chính là Đức cố Hồng y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, ngài yêu thương ngay cả nhửng kẻ bách hại mình. Ngài nói rằng ta chưa có khả năng yêu thương người khác vì chưa sống mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa như cây nho là Chúa nếu ta tách ra khỏi Chúa ta sẽ khô héo và sẽ chết. Do đó ta đừng nại bất kỳ lý do gì để trốn tránh cầu nguyện, để được sống kết hiệp với Chúa. Đời tu của ta sẽ hạnh phúc khi được ở bên Chúa, bám chặt vào Chúa và khi có Chúa là nguồn hạnh phúc đích thực: “Hạnh phúc của con là ở kề bên Chúa, chốn ẩn thân đặt ở Chúa Trời” (Tv 74,28) hay “Đối với tôi, niềm vui là chính Chúa” (Tv 104,34).

Để kết

Hội Dòng chúng ta còn đứng vững được trước hết là do ân ban từ Thiên Chúa, kế đến là nỗ lực của từng thành viên trong Hội Dòng và sự trợ giúp của rất nhiều người khác nữa. Trong đời sống tu trì, tôi tin chắc rằng nếu chúng ta muốn trở nên muối cho đời và ánh sáng cho trần gian, thì chúng ta phải sống kết hợp mật thiết với Chúa Kitô: “Tình yêu Đức Ki-tô thúc bách tôi” (2Cr 5,14).  Do đó, chúng ta đùng bao giờ thờ ơ lãnh đạm trước những khó khăn đau khổ của chị em, đừng bao giờ có ý nghĩ “đèn nhà ai nấy sáng”. Nhưng hãy hết lòng sẵn sàng nâng đỡ và giúp nhau trong mọi trạng huống cuộc sống.

Đối với bản thân, tôi ý thức rằng tôi luôn cần đến sự trợ giúp và đỡ nâng từ mọi thành viên trong cộng đoàn. Cộng đoàn chính là điểm tựa vững chắc cho tôi trong tất cả sứ vụ và cho đời dâng hiến của tôi. Cho dù cộng đoàn của tôi dẫu còn nhiều bất toàn, nhưng Chúa đã ban cho tôi để tôi biết thánh hóa bản thân và trưởng thành hơn. Đặc biệt, Chúa sẽ ban ơn đủ cho tôi nếu tôi biết tín thác trọn vẹn nơi Ngài: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”(x. Mt 14,27).
 

[1] x. Thánh Tô ma, 1 Ethic, lect 1.
[2] CĐ Vaticano II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, số 24, tr.759.
[3] CĐ Vaticano II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, chương II, số 26, tr.758.
[4] CĐ Vaticano II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, chương II, số 32, tr. 769.
114.864864865135.135135135250