02/10/2017 -

Các cộng đoàn

396
HIAL và nỗi cô đơn trong sứ vụ

HIAL và nỗi cô đơn trong sứ vụ


 “Cô đơn” phải chăng là ở một mình?

Cuộc sống muôn màu và mỗi người trải nghiệm thường không giống nhau về nổi “cô đơn” trong cuộc đời của mình. Ở một mình chưa chắc đã “cô đơn” nhưng ở với nhiều người chàng “cô đơn” không thể không tìm đến. Có những lần, chàng “cô đơn” chợt đến rồi qua nhanh, Hial gọi đó là “cô đơn” bất chợt, một thoáng nao lòng chẳng chút vấn vương. “Cô đơn” trong một khoảng thời gian nào đó rồi cũng biến tan khi tìm được tri kỷ, Hial coi đó là “cô đơn” bình thường của thân phận làm người. Nỗi “cô đơn” làm quay quắt cuộc sống hiện tại của ai đó. Khi nói về sứ vụ chẳng ai buồn nghe, sẻ chia về sứ vụ thì gặp những thái độ dửng dưng không muốn hiểu làm gì, định hướng về sứ vụ thì bị từ chối không thương tiếc??? Để rồi, ở giữa muôn người Hial vẫn thấy quạnh hiu. Sống - làm việc - tương quan rất bình thường nhưng vẫn cô liêu. Hial gọi đó là “cô đơn trong sứ vụ.”

Núi Ô-liu, chốn này, sư phụ Giê-su cùng các đệ tử đã quen đến để luyện công “cầu nguyện” sau những ngày hành tẩu giang hồ “rao giảng Lời” (Lc 22,39). Nhưng hôm nay, lòng Thầy  xao xuyến bồi hồi biết bao “anh em hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (Lc 22,40). Giờ đã đến, kẻ dữ sẽ bắt Thầy và chắc chắn anh em sẽ tan nát. Giờ đã đến, giờ Thầy phải chịu chết, cái chết nhục nhã nhất để cứu thế gian. Thầy quỳ gối tha thiết nguyện cầu “lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén  này xa con. Tuy vậy, xin đừng cho ý con thể hiện mà là ý Cha” (Lc 22,42). Khẩn cầu cùng Cha, Thầy toát cả mồ hôi máu. Ấy vậy mà những môn đệ thân tín, được Người yêu thương vẫn ngủ rất vô tư (Lc 22,44-45). Cô đơn thấu lòng vì ở bên Thầy bao năm vẫn chưa hiểu chút gì về sứ vụ của Thầy.


Cánh đồng truyền giáo Tây Nguyên bao la bát ngát, càng vào chốn xa càng thấy cái bao la ấy không biết bao giờ cho cùng. Hial ở chốn này cũng gần chín năm cộng một rồi. Ưu tư lớn nhất của đời sứ vụ Hial là làm sao để sống và chia sẻ niềm tin vào Chúa với anh chị em Jrai. Sống niềm tin trong nếp sống, văn hóa và tiếng nói của dân tộc mình được phục vụ. Đời sứ vụ của Hial hầu như dành tất cả cho người Jrai. Hial vùi đầu học tiếng Jrai, học và học với người Jrai, tập phong cách sao cho giống người Jrai một chút thôi cũng tốt mà.  

Mọi sinh hoạt của Hial bắt đầu xáo trộn vì khi nhìn thấy cái gì, làm việc gì cũng nhớ đến tiếng Jrai nên khi gặp người kinh “quất” luôn tiếng Jrai. Bị người ta nói vô duyên, Hial vẫn cam chịu, biết có ai hiểu mình???. “Khác người” đó là lời những người biết Hial dành cho nó, vì chị em sống chung với nó, cũng phục vụ người Jrai nhưng có ai giống nó đâu, quá “khác người”, mỉa mai đấy Hial chấp nhận không sao, mấy ai hiểu mình???. Lang thang nhiều trong các làng, cùng ăn, cùng uống, cùng hàn huyên,… riết rồi cũng quen chút chút. Hial cảm nhận được nhu cầu học tiếng, học biết – hiểu nếp sống văn hóa của anh chị em Jrai là hành trang không thể thiếu của những ai đam mê sứ vụ Jrai. Học để gọi là sống coi được với anh chị em chứ không phải học để đi phát quà hay đi dạo dạo vài câu rồi đâu lại vào đó, vẫn mãi xa nhau ngàn dặm. Hial mang kinh nghiệm nhỏ bé này trải lòng ra với những người sống gần mình nhất hay nói đúng hơn là cùng sứ vụ với mình nhưng “đâu phải ai cũng giống Hial.” Hial lại trở về với Hial lặng lẽ thôi.

Thầy bảo hãy cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ đến hai lần trên núi Ô Liu (Lc 22,39-46). Anh em của Thầy vẫn ngủ, nỗi niềm của Thầy lúc này không phải là vấn đề “ngủ” mà là không một môn đệ nào có thể hiểu, để sẻ chia dù một chút nỗi niềm. Đời sứ vụ, bên nhau bao năm tháng, tình Thầy rất sâu, tình trò chưa thấm nên vẫn còn vời vợi một khoảng cách, bởi khác nhau về nổi ưu tư.

Khác về nỗi ưu tư tạo nên cung cách phục vụ và quan điểm về sứ vụ khác nhau nên có người cố gắng rất nhiều vẫn thấy mình còn “biết” quá ít về anh chị em mình đang phục vụ. Dù ở với nhau bao năm vẫn thấy xa xa. Ngược lại, đó đây, không thiếu những quan điểm “nói tiếng Kinh người ta cũng hiểu hết” nên cứ tiếng Kinh ta “quát”.

Hial không có chút thế giá hay trình độ để có thế nói đúng hay sai về quan niệm này, chỉ thấy nỗi niềm chồng chất nỗi niềm. Vì Hial được phúc sống với – sống cùng những anh chị em Jrai mới trở lại đạo nên có chút ít kinh nghiệm. Trong giao tiếp thông thường anh chị em tương đối hiểu tiếng Kinh, nhưng khi nói về Chúa thì khác. Hial tập cho anh chị em cầu nguyện, nếu nói “Lạy Chúa, Đấng tạo thành trời đất” Jrai ta nói theo như con vẹt học nói nhưng khi “Ơ Khoa Yang Adai, Pô pơjing rơngit” dù cầu nguyện theo Hial nhưng những giọng nói ấy đầy sức sống và Thần Khí của Chúa. Cảm nhận thực tế về điều này, giúp Hial nỗ lực rất nhiều trong việc học tiếng Jrai. Sứ vụ nào cũng tốt nhưng đã sống với người bản địa Hial ước mong, ít là chị em mình đều học - nói tiếng bản địa trong giao tiếp cũng như khi chia sẻ niềm tin vào Chúa với anh chị em bản địa. 

Thầy Giêsu chết cho những con người nhẫn tâm giết chết – đóng đinh Ngài trên thập giá (Ga 19,12tt). Đau đớn trong cơn hấp hối trên Thánh Giá, Thầy đã thốt lên trong nỗi cô đơn tột cùng “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con” (Mc 15,34).




Trời Ia-lâu đêm nay không lạnh nhưng sao Hial vẫn thích kéo chăn trùm kín đầu, Hial không muốn nhớ lại cũng không muốn nghe nữa nhưng câu nói ấy cứ vẳng bên tai “chị bắt ai cũng giống chị sao, nói được vài từ Jrai chảnh… lúc nào cũng bắt học tiếng Jrai, nói tiếng Jrai.” Trời, như gai đâm thấu vào tim, Hail chỉ là nghĩ cho sứ vụ của chị em và ước mong có người kế nghiệp cho sứ vụ Jrai của dòng, Hial không muốn chị em mình cô đơn trong thế giới Jrai… Thầy ơi! Bao giờ mới có người hiểu được con dù chỉ một chút thôi???.

Có lẽ, Hial có chút gì đó sai sai không, khi dốc hết thời gian để học một ngôn ngữ mà bước ra khỏi làng nói chẳng ai hiểu? Hial có gì đó bất thường khi lựa chọn đời sứ vụ hiện tại chăng? Hơn 2000 năm con người ta vẫn chối bỏ Thiên Chúa, vẫn chưa tin vào ơn cứu độ của Thầy thì sao? Hial như vớ được cái phao giữa sóng nước mênh mông, không thèm khóc nữa mạnh mẽ, kiên cường lên trong sứ vụ. Hial lặng lẽ trong cô đơn của sứ vụ để cảm nghiệm niềm hạnh phúc Chúa ban hơn là nổi loạn trong sự nóng giận của tính con người.

Thưa Thầy, chính Thầy đã chọ con cho sứ vụ Jrai xin giúp con đừng tìm việc nhẹ nhàng, biết từ chối sự dễ dãi cho bản thân trong sứ vụ. Nhưng quảng đại cho đi tất cả khả năng Thầy ban cho con. Con không cầu xin cho có người hiểu con nhưng là cầu xin cho con biết chấp nhận những điều đang và sẽ đến trong sứ vụ dù tốt hay xấu. Hãy cứ để nõi cô đơn ấy sống mãi trong con nếu Thầy muốn.

Siu Khuk Ka

114.864864865135.135135135250