14/11/2017 -

Kỹ năng sống

413
Tiến trình ơn gọi năm bước

TIẾN TRÌNH ƠN GỌI NĂM BƯỚC

Lm. Micae Phaolô Trần Minh Huy, pss.    

Phần Một

MỤC TIÊU HƯỚNG TỚI

Ga 15, 12-17: “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết. Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau”.

Công cuộc đào tạo của Đại Chủng viện nhằm đạt tới kết quả cuối cùng là khẳng định một ứng sinh có ơn gọi linh mục và giới thiệu lên Đấng Bản quyền xin phong chức cho ứng sinh đó, bảo đảm rằng anh đã học biết cách làm linh mục và đủ điều kiện để thi hành sứ vụ linh mục, qua bốn chiều kích đào tạo là nhân bản, thiêng liêng, tri thức và mục vụ.

Tưởng cũng nên lưu ý đến định hướng đào tạo linh mục của Ratio 2016 về sự tương tác giữa các chiều kích đào tạo của Pastores Dabo Vobis: chiều kích nhân bản là nền tảng thiết yếu và năng động của toàn bộ đời sống linh mục, chiều kích thiêng liêng là điều kiện về phẩm chất của sứ vụ linh mục, chiều kích tri thức cung cấp các khí cụ hữu lý cần thiết để chuyển đạt nội dung đức tin cách thích hợp, chiều kích mục vụ mang lại khả năng phục vụ có trách nhiệm và phong phú. Mỗi chiều kích đào tạo đều nhằm biến đổi và đồng hóa tâm lòng của ứng sinh với con tim của Chúa Kitô, Mục Tử Nhân Lành đầy lòng thương xót (Ratio 2016 số 89).

Chi tiết hơn, chúng ta thấy

a) Chiều kích nhân bảnnền tảng cần thiết và năng động của toàn bộ đời sống linh mục (số 89). Đức Giêsu Kitô là khuôn mẫu và nguyên lý của việc đào tạo nhân bản (số 93). Cần quan tâm tới sức khoẻ thể lý, tâm lý và luân lý của ứng viên. Cũng cần tìm hiểu lịch sử bản thân của ứng sinh (số 94). Nhấn mạnh đến sự trưởng thành của chủng sinh trong tương quan với nam giới hay nữ giới, thuộc mọi lứa tuổi và có những điều kiện xã hội khác nhau (số 95), cũng như việc huấn luyện sử dụng truyền thông kỹ thuật số (số 97-100).

b) Chiều kích thiêng liêng quyết định phẩm chất của thừa tác vụ linh mục (số 89). Đời sống thiêng liêng nuôi dưỡng tình hiệp thông với Thiên Chúa và với tha nhân (số 101), đặc biệt xây dựng tương quan cá vị với Chúa Kitô (số 102), được bảo vệ nhờ cử hành đều đặn và thường xuyên bí tích thống hối, xét mình hằng ngày (số 106), được tăng trưởng nhờ cầu nguyện, suy gẫm Lời Chúa, yêu mến Thánh Thể (số 102). Như vậy, đời sống thiêng liêng chính là tương quan cá vị với Chúa Kitô trong sự tự do nội tâm, chứ không phải là “lớp sơn” đức hạnh (số 41) hay “hình thức thế tục thiêng liêng” (số 42).

c) Chiều kích trí thức giúp các ứng sinh linh mục có được năng lực tri thức thực sự để có thể loan báo sứ điệp Tin Mừng cho người đương thời một cách đáng tin cậy và dễ hiểu (số 116). Phải đề cao vai trò của Kinh Thánh trong việc đào tạo trí thức cho chủng sinh “ở mọi cấp độ, từ Lectio divina cho đến việc chú giải” chuyên môn (số 166). Việc đào tạo tri thức không chỉ cung cấp những kiến thức, mà còn là phương tiện giúp chủng sinh biến đổi để ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô (số 35).

d) Chiều kích mục vụ nhằm rèn luyện năng lực đảm nhận cách có trách nhiệm và phong phú phận vụ được Giáo Hội giao phó (số 89), giúp ứng sinh trở nên mục tử theo hình ảnh Đức Kitô (số 119), và là môn đệ truyền giáo (số 40 và 91), nên chuyên viên trong nghệ thuật phân định mục vụ (số 120), thành những mục tử biết cảm thông và hết mình vì đoàn chiên, nhất là phải trở nên khí cụ của lòng thương xót (số 40). Ngoài ra, cần nêu những tấm gương hy sinh, dấn thân của các linh mục đàn anh (số 123) và mời gọi chủng sinh biết khéo léo, khôn ngoan, trân trọng lắng nghe người khác, sẵn sàng dấn thân với lòng quảng đại để phục vụ Giáo Hội và tha nhân (số 120).

Mọi sự trên đời đều có tiến trình của nó, và phải tiệm tiến đi từng bước trong trật tự, đi sai nhịp là sẽ bị đảo lộn, rối tung lên và có nguy cơ thất bại. Ơn gọi cũng trải qua tiến trình năm bước:

1.      Chúa gọi,

2.      Con người đáp trả,

3.      Cam kết theo Chúa Kitô toàn thể,

4.      Biến đổi dần dần và sống phù hợp,

5.      Kiên trì cho đến cùng.

Không thể đòi hỏi anh em mới vào Chủng viện phải giống như anh em sắp ra trường, cũng như không thể chấp nhận anh em năm cuối mà còn dẫm chân tại chỗ như khi mới vào, và càng không thể chấp nhận được người đi thụt lùi hoặc đi trệch con đường. Vì thế, nói về tiến trình ơn gọi năm bước là hữu ích không chỉ cho người mới bắt đầu, mà cả những người lớp lớn, và thậm chí đã chịu chức/khấn để sống tốt và thành công trong đời sống và sứ vụ ơn gọi của mình cho đến cùng.

1. Bước thứ nhất: CHÚA GỌI

Chúa gọi trực tiếp từ trong sâu thẳm cõi lòng mỗi người, hay gián tiếp qua người nọ kẻ kia, hoặc Chúa phối hợp cả hai cách để nói lên kế hoạch yêu thương quan phòng của Chúa, với từng bối cảnh cụ thể của cuộc sống cá vị của mỗi người. Ứng sinh trong giai đoạn quan trọng này cần có người đồng hành kinh nghiệm giúp tìm kiếm và phân định ý Chúa. Đó là vai trò của các nhà đào tạo, nhất là vị linh hướng.

a. Một số ơn gọi nổi bật

Trước hết là ơn gọi của Samuel: “Cậu bé Samuen phụng sự Đức Chúa, có ông Êli trông nom… Một ngày kia, ông Êli đang ngủ ở chỗ ông, mắt ông đã bắt đầu mờ, ông không còn thấy nữa. Đèn của Thiên Chúa chưa tắt và Samuen đang ngủ trong đền thờ Đức Chúa, nơi có đặt Hòm Bia Thiên Chúa. Đức Chúa gọi Samuen. Cậu thưa: “Dạ, con đây!” Rồi chạy lại với ông Êli và thưa: “Dạ, con đây, thầy gọi con.” Ông bảo: “Thầy không gọi con đâu. Con về ngủ đi.” Cậu bèn đi ngủ. Đức Chúa lại gọi Samuen lần nữa. Samuen dậy, đến với ông Êli và thưa: “Dạ, con đây, thầy gọi con.” Ông bảo: “Thầy không gọi con đâu, con ạ. Con về ngủ đi.” Bấy giờ Samuen chưa biết Đức Chúa, và lời Đức Chúa chưa được mặc khải cho cậu. Đức Chúa lại gọi Samuen lần thứ ba. Cậu dậy, đến với ông Êli và thưa: “Dạ, con đây, thầy gọi con.” Bấy giờ ông Êli hiểu là Đức Chúa gọi cậu bé. Ông nói với Samuen: “Con về ngủ đi, và hễ có ai gọi con thì con thưa: ‘Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.” Samuen về ngủ ở chỗ của mình. Đức Chúa đến, đứng đó và gọi như những lần trước: “Samuen! Samuen!” Samuen thưa: “Xin hãy phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe[1]. Ai đã giúp chúng ta nhận ra lời mời gọi của Chúa?

Thứ hai là tiến trình ơn gọi của Đức Mẹ[2]: Thiên Chúa đi bước trước sai sứ thần vào nhà trinh nữ và nói “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” Thoạt đầu Đức Mẹ băn khoăn: Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có ý nghĩa gì. Sứ thần liền giải thích: “Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.” Đức Mẹ phản bác lại vì trái với quyết ý và kế hoạch của Mẹ cho cuộc đời mình, theo cách tự nhiên của con người: “Việc ấy làm sao xảy ra được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” Sứ thần lại giải thích: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.” Sứ thần còn thuyết phục với bằng chứng: “Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng, vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” Bấy giờ Đức Mẹ từ bỏ, hay đúng hơn lụy phục ý muốn và kế hoạch riêng của Mẹ cho ý muốn và kế hoạch của Chúa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.

Chúng ta thấy Thiên Chúa không hành động nghịch lại tự do của con người, mà Ngài cần đến sự ưng thuận tự do của tạo vật của Ngài: Cả trời và đất, cả thiên đàng và trần thế, cả chính Thiên Chúa, đều chờ đợi lời đáp trả của Mẹ Maria. Mẹ trở nên mẫu gương cho chúng ta trước lời mời gọi của Chúa. Mẹ có ý muốn và kế hoạch cho cuộc đời của Mẹ. Nhưng một khi thiên sứ giải thích và thuyết phục, Mẹ nhận ra ý muốn và kế hoạch của Chúa trên cuộc đời Mẹ thì Mẹ liền mau mắn lụy phục ý muốn và kế hoạch của Mẹ cho ý muốn và kế hoạch của Chúa. Ai trong chúng ta cũng có ý muốn và kế hoạch riêng cho đời mình, liệu ý muốn và kế hoạch đó có phù hợp với ý muốn và kế hoạch của Chúa cho mình không; và nếu không thì chúng ta có dám luỵ phục ý muốn và kế hoạch của mình cho ý muốn và kế hoạch của Chúa không? Ơn gọi chỉ thực sự triển nở và hạnh phúc trong ý muốn và kế hoạch của Chúa.

            Thứ ba là ơn gọi của bốn Tông đồ đầu tiên: “Một hôm, Đức Giêsu đang đứng ở bờ hồ Giênêsarét…  Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ… Người  xuống chiếc thuyền của ông Simon, và xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi từ trên thuyền, Người giảng dạy đám đông. Giảng xong, Người bảo ông Simon: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá.” Ông Simon đáp:“Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả, nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới.” Họ đã làm như vậy và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới. Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm. Thấy vậy, ông Simon sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Simon và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc. Cả hai người con ông Dêbêđê, là Giacôbê và Gioan, bạn chài với ông Simon, cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giêsu bảo ông Simon: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.” Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người”[3].

            Là những người đánh cá chuyên nghiệp mà suốt cả đêm các ông không bắt được con cá nào, dù đó là thời gian thuận tiện cho việc đánh bắt, vì ban đêm các phiêu sinh vật nổi lên mặt nước và cá theo đó mà tìm thức ăn. Ấy thế mà khi có Chúa Giêsu ở cùng trên thuyền và vâng lời Ngài, dù Ngài không từng trải nghề đánh cá, các ông được một mẻ cá lạ lùng. Và chính mẻ cá lạ lùng này đã thúc đẩy các ông mau mắn theo Chúa.

            Lời mời gọi của Chúa thật đa dạng và phong phú, đến như bất ngờ và dường như không thể. Chúng ta có thể kể đến lời mời gọi Matthêu bên bàn thu thuế[4], Maiđệliên gái điếm[5] hay Phaolô bắt đạo[6] và bao nhiêu kỳ tích ơn gọi của các thánh, cùng những người mà chúng ta có thể biết được… Tôi xin kể câu chuyện của cha già Thích, Khoa trưởng Hán Văn Viện Đại Học Huế.

b. Cách nhận ra ơn gọi

Nhìn vào câu chuyện đời với những biến cố nổi bật của chúng ta, dù thành công hay thất bại, thánh thiện hay tội lỗi, các nhà đào tạo, nhất là vị linh hướng, sẽ giúp chúng ta đọc được hàng chữ viết thẳng về lời mời gọi của Chúa trên những đường cong cuộc đời của chúng ta. Chúa có thể gọi trực tiếp, hoặc gián tiếp bởi ai đó gợi ý thúc đẩy, như cha mẹ, cha xứ, thầy xứ, bạn bè… giống như Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Giêsu cho hai môn đệ mình, hoặc như Anrê dẫn em mình là Simon hay Philipphê dẫn Nathanael đến với Chúa Giêsu.

Và hôm nay, Chúa vẫn luôn tiếp tục kêu gọi và đổi mới lời mời gọi của Ngài qua từng biến cố cuộc đời của chúng ta, chúng ta đừng để đánh mất cơ hội. ĐTC Phanxicô khuyến khích: “Hãy tin tưởng vào Chúa Giêsu. Chúa luôn luôn ở với chúng ta. Người ở bên bờ của cuộc đời chúng ta, Người đến gần những thất bại của chúng ta, những yếu đuối của chúng ta, những tội lỗi của chúng ta, để biến đổi chúng[7]. 

            Những ngày tĩnh tâm năm là cơ hội thuận tiện để mỗi người chúng ta đọc lại lịch sử ơn gọi của mình, và nghiêm túc lượng sức để quyết định dứt khoát ơn gọi của mình, càng sớm càng tốt, vì ích lợi của bản thân, của Giáo hội và Giáo phận. Dù đã ở trong Chủng viện một thời gian, lâu mau tuỳ người, chúng ta cũng vẫn đang tìm hiểu ơn gọi mỗi ngày cho chín chắn hơn, bằng việc kiểm tra chính mình và các ân ban của mình xem có phù hợp với đời sống và sứ vụ linh mục không? Chúng ta phải phân định và đánh giá các ân huệ ấy xem có ăn khớp với kế hoạch chung và nhu cầu của Giáo hội và Giáo phận hay không? Dĩ nhiên phải có hòa điệu trong việc sống các ân ban đa dạng ấy mới sống ơn gọi một cách vui tươi hạnh phúc được.

Bên cạnh đó, những người có trách nhiệm đào tạo cũng tìm hiểu và đánh giá để đón nhận và thăng tiến ơn gọi của chúng ta, như Chúa Giêsu đã thẩm định ông Nathanael là “người đích thực, lòng dạ không có gì gian dối” và đã tiếp nhận ông vào hàng ngũ tông đồ của Chúa[8]. Các ngài cũng xem xét tính tình, khả năng, lòng đạo đức, ý hướng và động lực của chúng ta có phù hợp với ơn gọi linh mục không? Trong thư gửi người Công giáo Ái Nhĩ Lan, ĐTC Biển Đức XVI qui kết nạn lạm dụng tình dục (và vi phạm tình dục) của hàng giáo sĩ là “docác thủ tục thiếu sót trong việc ấn định ra tư cách xứng đáng của các ứng viên chức linh mục và cuộc sống tu trì; thiếu sót trong việc đào tạo nhân bản, luân lý, tri thức và thiêng liêng trong các Chủng viện và Tập viện[9].

Do đó, chúng ta được mời gọi để được đào tạo và tự đào tạo trở nên ứng sinh tốt. Đào tạo đích thực là biến người lầm lỗi thành người không còn lầm lỗi, biến người xấu thành người tốt, người tốt thành người tốt hơn để đi đến sự hoàn hảo thánh thiện, vì tội thì tha lỗi thì sửa, mỗi vị thánh đều có một quá khứ và mỗi tội nhân đều có một tương lai.

Trong những giờ suy niệm cá nhân trước Thánh Thể, (nhất là trong mỗi Giờ Thánh cuối ngày), chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì đã kêu gọi chúng ta, đồng thời xin cho chúng ta được kiên trì cộng tác với ơn Chúa, dù chúng ta không tốt hơn và nhiều khả năng hơn nhiều anh em đồng tuổi khác, để tỏ rõ tình thương vô điều kiện và quyền tự do chọn gọi của Chúa, như Ngài đã nói: “Không phải các con chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con”. ĐTC Biển Đức XVI khích lệ: “Các con đã nghe theo tiếng gọi của Chúa Kitô, và được cái nhìn đầy yêu thương của Ngài lôi cuốn. Các con hãy hướng mắt lên Ngài: qua việc Nhập thể, Ngài mang lại cho thế giới mạc khải sau cùng về Thiên Chúa, và nhờ sự Phục sinh, Ngài đã trung thành thực thi lời hứa. Hãy tạ ơn Chúa vì dấu chỉ yêu mến đánh dấu mỗi người trong các con”[10].

Còn ĐTC Phanxicô thì nhắc nhở: “Trở thành linh mục không phải là một lựa chọn chúng ta thực hiện hoàn toàn bằng bản thân mình… Câu trả lời của chúng ta được kích hoạt bởi một lời mời gọi tình yêu. Đó là một cái gì bạn cảm thấy bên trong. Cái gì đó làm chúng ta không yên. Và bạn đáp trả lại ‘Xin Vâng’[11].

2. Bước thứ hai: CON NGƯỜI ĐÁP TRẢ

ĐTC Phanxicô nói với các bạn trẻ: “Cha xin các con suy xét xem mình có được mời gọi sống đời thánh hiến hay linh mục không. Thật tuyệt vời biết bao khi thấy các bạn trẻ đón nhận lời mời gọi hiến dâng trọn vẹn cho Chúa Kitô để phục vụ Giáo hội của Người. Hãy tự thách đố chính mình, và với tâm hồn trong sạch, các con đừng sợ điều Thiên Chúa đòi hỏi các con! Từ tiếng “xin vâng” của các con đáp lại lời Chúa mời gọi, các con sẽ trở thành những hạt giống mới gieo niềm hy vọng trong Giáo hội và trong xã hội[12].

Đang có mặt ở đây là chúng ta đã đáp lại lời mời gọi của Chúa. Hy vọng chúng ta sẽ quảng đại đáp trả cho đến cùng, vì ơn gọi “không phải là một chọn lựa luân lý hay một lý tưởng cao quý, nhưng là gặp gỡ với chính Chúa Giêsu, một cuộc gặp gỡ trao ban cho cuộc sống một chân trời mới, và qua đó là một hướng đi có tính cách quyết định[13]. Chúa luôn đổi mới lời mời gọi của Ngài qua các biến cố cuộc sống thì chúng ta cũng phải luôn đổi mới lời đáp trả của chúng ta qua các biến cố cuộc sống ấy, dù vui hay buồn, thành công hay thất bại, thánh thiện hay tội lỗi.

Nhưng trong việc đáp trả theo Chúa này, chúng ta phải để ý hai yếu tố ThíchHợp.Thích là yếu tố chủ quan và tình cảm có thể theo phong trào, nhất thời và hay thay đổi; còn Hợp là yếu tố khách quan đòi hỏi khả năng và phẩm chất để được bền vững cho đến cùng. Tự mình đánh giá mình có thể bị ảo tưởng và sai lầm, nên chúng ta cần có các nhà đào tạo hướng dẫn để khỏi chọn lựa sai kế hoạch của Chúa. Thích làm linh mục mà không hợp là không được. Trái lại, dù được mọi người đánh giá là hợp mà đương sự không thích thì cũng không thành.

            Như thế, để thẩm định việc đáp trả ơn gọi cần có sự hợp tác tích cực giữa các nhà đào tạo và ứng sinh, cùng với ơn Chúa. Cầu xin Chúa Thánh Thần dẫn dắt cả đôi bên, vì ai cũng có thể gặp phải sai lầm ngoài ý muốn. Người có trách nhiệm đào tạo sẽ đồng hành sâu sát với chúng ta, tiệm tiến thẩm tra và giúp chúng ta biện phân ý Chúa và thực thi ý Chúa qua câu chuyện đời của chúng ta (Chúa luôn viết thẳng trên những đường cong cuộc đời của con người), và mời gọi chúng ta tham gia vào việc tự đào tạo chính chúng ta. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải thành thật trình bày hành trình câu chuyện đời của chúng ta, nhất là các mốc điểm lịch sử quan trọng, dù tốt dù xấu, dù thánh thiện hay tội lỗi, với các nhà đào tạo, nhất là vị linh hướng.

Đời sống ơn gọi luôn là lối đi ngược dòng với xu hướng thời đại của nền văn minh sự chết (tục hóa, hưởng thụ vật chất và khoái lạc nhục dục). Do đó, chúng ta phải kiên trì sử dụng mọi phương thế tự nhiên và siêu nhiên để gìn giữ và tự bảo vệ lấy mình trong mọi mối tương quan, hầu xứng hợp theo đuổi lý tưởng ơn gọi linh mục cho đến cùng. Trong những phương thế ấy, chúng ta đừng quên năm yếu tố này: nơi chốn gặp gỡ, thời gian và thời lượng, khoảng cách thể lý và tâm lý, sự có mặt của những người thứ ba, và ý thức sự hiện diện khuất ẩn nhưng thấu suốt tất cả của Chúa.

ĐTC Phanxicô nhắn nhủ: “Các con đừng sợ đi ngược dòng đời, khi mà những giá trị được bày ra cho chúng ta là những giá trị xấu, muốn cướp mất hy vọng của chúng ta. Những giá trị được ví như những bữa ăn, nếu bữa ăn không lành mạnh thì nó sẽ làm hại chúng ta. Chúng ta phải đi ngược dòng đời! Và các con phải là người đi tiên phong:“hãy đi ngược dòng đời và hãy lấy làm hãnh diện khi đi ngược dòng đời như vậy”[14].

Trong việc đi ngược dòng này, chắc cũng có người đang trăn trở đắn đo giữa đôi đường phải chọn lựa, và lượng sức để quyết định dứt khoát. Kinh nghiệm bản thân mà ĐTC Phanxicô đã chia sẻ cho chúng ta một chỉ dẫn: “Lúc tôi còn là một chủng sinh, tôi bị lóa mắt bởi một cô gái tại đám cưới của một ông chú. Tôi bàng hoàng trước vẻ đẹp và trí thông minh của nàng… quả đúng thế, tôi bàng hoàng một thời gian khá lâu. Tôi luôn nghĩ đến nàng không thôi. Sau đám cưới ấy, tôi trở lại chủng viện, nhưng đến cả một tuần lễ sau, tôi vẫn không cầu nguyện được, vì mỗi lần cố gắng cầu nguyện thì cô gái lại xuất hiện trong đầu tôi. Tôi phải suy nghĩ lại xem tôi đang làm gì đây. Tôi vẫn còn tự do vì mới chỉ là chủng sinh thôi, nghĩa là tôi có thể trở về gia đình, thế là xong. Nhưng tôi phải suy nghĩ về chọn lựa của mình một lần nữa. Và một lần nữa, tôi đã chọn, hay đúng hơn, tôi để mình được chọn bởi con đường tu trì. Hiện tượng này mà không xảy ra mới bị coi là chuyện bất bình thường. Và khi nó xảy ra, người ta bắt buộc phải rà lại hướng đi của mình một lần nữa. Đây là vấn đề ta phải chọn lựa lại hoặc cho rằng ‘điều tôi đang cảm xúc thật là đẹp và sợ sau này sẽ không trung thành với ơn gọi, thì nên rời chủng viện là hơn’. Nếu việc này xảy ra cho một chủng sinh, tôi thường giúp họ ra đi bằng an để trở thành một Kitô hữu tốt, chứ không thành một linh mục xấu.

 Như thế, chúng ta có trách nhiệm đối mặt với những gì đã xảy ra cho mình và lượng sức để giải quyết chúng, với sự giúp đỡ của các nhà đào tạo, nhất là vị linh hướng, để việc chọn lựa đời sống ơn gọi linh mục có hướng dứt khoát sớm, nhờ đó tiến trình được đào tạo và tự đào tạo được hiệu quả. Ngoài ra, chúng ta cũng cần được sớm biết rõ những khoản Giáo luật liên quan, nhất là về các trở ngại Giáo Luật, kẻo để quá muộn sẽ tiến thối lưỡng nan, thiệt hại cho Giáo hội lẫn cho chính chúng ta, chẳng hạn:

-     GL 1025: Phải trải qua một thời gian thử thách, hội đủ những đức tính thích hợp, không bị điều bất hợp luật và ngăn trở nào, đủ các giấy tờ cần thiết, và phải được điều tra kỹ lưỡng (x. GL 1051)

-  GL 1026: Đương sự phải được tự do hoàn toàn, tuyệt đối không được cưỡng bách bằng bất cứ cách nào và vì bất cứ lý do gì, cũng không được ngăn cản người đủ khả năng xứng hợp theo Giáo luật.

-  GL 1029: Chỉ nên cho tiến chức những ứng sinh có đức tin tinh tuyền, ý hướng ngay lành, kiến thức cần thiết, danh thơm tiếng tốt, đức hạnh vẹn toàn, nhân đức vững vàng, các đức tính về thể lý và tâm lý phù hợp với chức thánh sẽ lãnh nhận.

-  GL 1036-1037: Ứng viên phải đệ trình một bản tuyên bố do chính tay mình viết và ký tên xác nhận mình tự nguyện và tự do xin được chịu chức và sẽ vĩnh viễn dấn thân cho thừa tác vụ của Giáo hội, đã công khai đảm nhận nghĩa vụ sống độc thân trước Thiên Chúa và Giáo hội.

-  GL 1041: Những bất hợp luật không được chịu chức như điên khùng/bệnh tâm thần, không đủ năng lực chu toàn thừa tác vụ; bội giáo, lạc giáo hay ly giáo; mưu toan kết hôn, dù chỉ là hôn nhân dân sự; tội sát nhân, phá thai có hiệu quả, hay tích cực cộng tác vào; chủ tâm hủy hoại thân thể mình hay kẻ khác, đã mưu toan tự vẫn; đã thực hiện một hành vi thuộc Bí tích Truyền chức (vd. ngồi vào tòa giải tội nghe xưng tội, nâng MTC lên ban phép lành cho giáo dân).

-  GL 1043: Buộc tín hữu phải trình báo với Đấng Bản quyền về người có những ngăn trở để nhận lãnh chức thánh.

-  GL 1045: Dù không biết là có những điều bất hợp luật và những ngăn trở thì vẫn bị mắc những điều ấy.

-  GL 1051: Phải điều tra theo các phương thế hữu ích tùy hoàn cảnh mỗi thời và mỗi nơi.

-     GL 239,2: Mỗi Chủng viện phải có ít nhất một vị linh hướng và những tư tế khác được Giám mục chỉ định vào nhiệm vụ giải tội/linh hướng. Xuân Bích có ưu điểm trong vấn đề này là tất cả các cha giáo đều làm linh hướng, chỉ trừ cha Giám đốc, người có quyết định cao nhất toà ngoài của chủng viện.

-  GL 240,2: Không bao giờ được hỏi ý kiến của vị linh hướng hay cha giải tội trong việc cho chủng sinh tiến chức hoặc sa thải.

-  GL 246,4: Ứng sinh phải thường xuyên lãnh nhận bí tích sám hối và tự do chọn lựa cho mình một vị linh hướng để có thể tin tưởng bày tỏ lương tâm. Điều mà vị linh hướng khám phá về người thụ hướng ở toà trong sẽ không được tiết lộ ra ở toà ngoài.

Ứng sinh cũng cần có một cam kết viết tay về ý ngay lành và tính trung thực của việc theo đuổi ơn gọi, liên quan đến bối cảnh gia đình “xét như chủng viện đầu tiên,”[15] những điều kiện bên ngoài, những điều kiện tự nhiên và những điều kiện thiêng liêng. Ứng sinh cũng được yêu cầu trải qua một cuộc kiểm tra sức khỏe tổng quát và trắc nghiệm tâm lý; lãnh vực đời sống tình cảm/tính dục cũng cần được khảo sát và chữa lành hầu đạt được sự ổn định cần thiết cho đời sống linh mục mai ngày; những gánh nặng nội tâm cần được tháo gỡ và giải quyết nhờ sự trợ giúp của các nhà đào tạo, nhất là vị linh hướng[16].

Nhưng cái gì có thể xảy ra khi chúng ta khám phá ra rằng chúng ta không thích hợp? Thưa hoặc là phải rời Chủng viện, hoặc là phải thích nghi, uốn nắn chính bản thân và nỗ lực hội nhập. Sự việc ấy đôi khi gây ra cảm giác khó chịu và cũng gây nên những khó khăn, vì không phải lúc nào cũng có thể nhận ra ngay tác động của Chúa Thánh Thần.

Lòng chân thật theo ơn gọi

Về lòng chân thật trong ơn gọi, tôi xin kể câu chuyện “Nhà vua chọn người kế vị”: Một vị vua kia thật hiền, hết lòng yêu thương lo cho dân cho nước, nhưng chẳng may Chúa không cho sinh con nối dòng. Vua lên kế hoạch chọn người kế vị trong hàng con cháu của hoàng thân quốc thích. Vua giao cho mỗi người một hạt giống, chủng loại khác nhau, để chăm bón thành cây kiểng, hẹn ba năm sau mở cuộc thi do cả triều đình chấm, dưới sự chủ tọa của chính vua. Đến hẹn, các công tử của hoàng thân quốc thích đua nhau mang thành quả của mình đến dự thi. Có nhiều chậu kiểng tuyệt đẹp và quí giá, ai cũng trầm trồ khen ngợi, và các chủ nhân hớn hở nắm chắc phần thắng. Cuối rốt là một công tử trẻ tuổi bê một chậu đất không cây dâng lên, khóc tức tưởi.

Vua đích thân thẩm vấn. Cậu nghẹn ngào thưa: “Con đã làm hết mọi cách chăm bón hằng ngày, che mưa che nắng, liệu đủ nước đủ phân, khí trời âm dương… nhưng hạt giống của con vẫn không mọc, con không hiểu tại sao. Con thành thật xin lỗi vua, vì đã làm vua thất vọng, con xin nhận thất bại của con.” Vua bất thần ôm chầm lấy chàng trai và tuyên bố đã tìm được người kế vị. Mọi người rất đỗi ngạc nhiên. Vua giải thích: “Tất cả mọi hạt giống vua giao đều đã luộc chín hết rồi, không thể nào mọc thành cây được. Chỉ công tử này là thật thà, ngay chính và trung thành, xứng đáng để ta truyền ngôi trị nước, chăm lo cho muôn dân. Còn các công tử khác tuy đã thay hạt giống thật vua giao, nhưng cũng hết lòng chăm bón, ta không bắt tội, triều đình sẽ tùy theo tài năng đức độ của mỗi người mà cắt đặt”. Mỗi người chúng ta suy nghĩ và tự trả lời trong thinh lặng về ý ngay lành và lòng chân thật của mình khi theo đuổi ơn gọi linh mục.

ĐTC Biển Đức XVI dạy: “Được khích lệ bởi những người đào tạo các con, các con hãy mở tâm hồn cho ánh sáng của Chúa để xem liệu con đường này, một con đường đòi hỏi lòng can đảm và tính xác thực, có phải là con đường của các con không, và chỉ tiến tới thiên chức linh mục nếu các con chắc chắn xác tín rằng Thiên Chúa kêu gọi các con trở thành các thừa tác viên của Ngài, và hoàn toàn quyết định thực thi thừa tác vụ này trong sự vâng phục những quy định của Giáo hội[17].

Eph 4, 17-24: “Đây là điều tôi nói với anh em, và có Chúa chứng giám, tôi khuyên anh em: đừng ăn ở như dân ngoại nữa, vì họ sống theo những tư tưởng phù phiếm của họ. Tâm trí họ đã ra tối tăm, họ xa lạ với sự sống Thiên Chúa ban, vì lòng chai dạ đá khiến họ trở nên dốt nát. Họ đã mất ý thức nên đã buông thả, sống phóng đãng đến mức làm mọi thứ ô uế cách vô độ. Còn anh em, anh em đã chẳng học biết về Đức Ki-tô như vậy đâu; ấy là nếu anh em đã được nghe nói về Đức Giê-su và được dạy dỗ theo tinh thần của Người, đúng như sự thật ở nơi Đức Giê-su. Vì thế, anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện”.

3. Bước thứ ba: CAM KẾT THEO CHÚA KITÔ TOÀN THỂ

Chúa Giêsu đã nói: “Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con và sai các con ra đi…”[18]. Như thế, mỗi người chúng ta phải khẳng định rằng mình theo chính Chúa Kitô chứ không phải theo ai khác, và đặt Chúa Kitô ở trung tâm của tất cả mọi sự. Cứ luôn bám chặt vào Chúa, chúng ta sẽ nhận được một sức mạnh kỳ diệu nâng đỡ mà Thánh Phaolô xác quyết là “chính Chúa Kitô sống trong tôi[19]

Quả vậy, chúng ta cam kết đi theo chính Chúa Kitô, và là Chúa Kitô toàn thể, nghĩa là Chúa Kitô vinh hiển của núi Taborê cũng như Chúa Kitô khổ nạn của đồi Golgotha, dù gặp hoàn cảnh thế nào đi chăng nữa: được hiểu hay không được hiểu, được ủng hộ hay bị chống đối, vui hay buồn, sướng hay khổ, thành công hay thất bại. Nếu gặp được Bề trên, các cha giáo và anh em cảm thông nâng đỡ, thì con đường vác thập giá đi theo Chúa được nhẹ nhàng hơn, còn nếu gặp phải người thiếu thông cảm hay quá khó thì con đường thập giá theo Chúa sẽ nặng nề hơn, nhưng vẫn quyết tâm đi tới, không hề bỏ cuộc, “biết rằng đời hiểu hay không, uống cho bằng cạn chén hồng Chúa trao, thương ai Chúa mới gọi vào, kèm trong thử thách dạt dào đỡ nâng”, bởi vì nếu cố tìm Chúa Giêsu không có thánh giá thì chúng ta sẽ có nguy cơ gặp phải thánh giá mà không có Chúa Giêsu.

Các động lực ơn gọi

Để hiểu được tính cách và tầm quan trọng của cam kết này, chúng ta phải xét đến các động lực ơn gọi. Đúng vậy, đàng sau mọi quyết định và hành động đều có một hay nhiều động lực ẩn khuất tác động. Chúng ta cần một không gian và thời gian để xem xét, làm sáng tỏ và thanh luyện các động lực của mình. Có thế thì việc đáp trả lời mời gọi và cam kết theo Chúa mới bền vững trong tin yêu và quảng đại. Công cuộc đào tạo ở Chủng viện, đặc biệt việc đồng hành thiêng liêng và linh hướng sẽ đóng góp vào việc nhận diện và thanh lọc các động lực ấy.

Có những động lực ý thức, như lòng khao khát theo Chúa để phục vụ Chúa và các linh hồn, làm việc tông đồ, có nhiều thời gian hơn để cầu nguyện, v.v... Có những động lực vô thứcnhằmtìm kiếm thỏa mãn các nhu cầu đã không được thỏa mãn trong thời niên thiếu, hoặc do ảnh hưởng của người khác can thiệp vào, khao khát cuộc sống được bảo đảm, khao khát được nhận biết, được chú ý, được đón nhận; khao khát được kiện toàn, được chu toàn một lời hứa khi nhỏ, được thoát khỏi nghèo khổ, thoát khỏi đời sống gia đình bất hạnh, tìm kiếm đặc ân, thoả mãn tham vọng của cha mẹ, v.v... Các động lực ấy chẳng phải là tội, nhưng chúng bộc lộ những thiếu sót làm lệch lạc con đường ơn gọi đích thực cần phải loại bỏ dần dần.

Các ý hướng theo đuổi ơn gọi

Để tăng cường sự phát triển trưởng thành nhân bản và thiêng liêng, chúng ta cần phải trung thực đối mặt gọi tên và loại bỏ hay biến đổi uốn nắn các động lực và ý hướng không thích hợp. Có bốn loại ý hướng:

Ý hướng cam kết cung ứng khả năng đáp lại tiếng Chúa gọi, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần. Đây là ý hướng lý tưởng của người tương đối trưởng thành theo ơn gọi.

Ý hướng phận vụ thường bị giằng co giữa việc tìm kiện toàn chính mình và sự sẵn sàng dâng hiến bản thân mình. Tính lưỡng diện này tỏ lộ sự thiếu tự do và thiếu trưởng thành, cần một sự phân định cẩn thận.

Ý hướng địa vị tìm thăng tiến bản thân để che lấp sự bất ổn căn bản trong đời sống của mình, hay vì ước muốn và tham vọng của người khác coi đời tu là một thăng tiến xã hội, như hoài bão của cha mẹ họ hàng chẳng hạn (ông bà cố, một người làm quan cả họ được nhờ).

Ý hướng trốn thoát nhằm tìm kiếm sự che chở từ cuộc sống tu trì, muốn tránh những phiền toái rắc rối của đời sống hôn nhân gia đình, dù rằng vẫn chịu sự lôi cuốn. Tính nhập nhằng này có thể được quan sát thấy cách dễ dàng trong thái độ lẫn cách ứng xử.

Người có ý hướng địa vị và trốn thoát thường không có ơn gọi đích thực, bởi vì thiếu trưởng thành nhân cách và sẽ dễ dàng từ bỏ hoặc phản bội sứ vụ căn bản của mình. Chúng ta cần phải ý thức về nhiều nhân tố trong động lực ơn gọi của mình và phân tích những đường lối dấn thân phục vụ tha nhân, bao gồm cả việc trung thành với lời cam kết của mình. Nhiệm vụ của vị hướng dẫn ơn gọi thật là quan trọng. Người giúp ứng sinh ý thức rõ nhiều động lực đang có mặt và sự xung khắc giữa các động lực ấy để giải quyết chúng. Động lực nào phù hợp với đời tu sẽ được sử dụng để thăng tiến. Động lực nào không phù hợp với đời tu thì phải loại bỏ hay biến đổi. Nếu không thể nào thay đổi được, ứng sinh nên tìm một cuộc sống ở nơi nào khác thì tốt hơn là theo đuổi đời sống hướng tới chức linh mục.

Biết mình để lượng sức

Để sống cao độ sự cam kết này, ứng sinh cần phải tự biết mình. Ở cửa đền Alphê, Socrate cho khắc chữ “Hãy tự biết mình.” Còn Thánh Augustinô thì cầu nguyện mỗi ngày “xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con.” Tự biết mình là yếu tố rất quan trọng để đạt được trưởng thành. Ứng sinh phải cố gắng hiểu được mình là ai, đang ở đâu trong tiến trình tu luyện, với tất cả những điểm mạnh và những điểm yếu của mình, để không tự tôn bằng sự phòng vệ coi mình là trung tâm điểm hoặc tự ti và quá lệ thuộc vào người khác. Hẳn các nhà đào tạo cũng biết ứng sinh đang ở giai đoạn nào trong tiến trình ấy, để nhẫn nại dẫn dắt, không đốt giai đoạn, kẻo đốt giai đoạn là đốt cháy cả một đời người.

Trong bước theo Chúa Kitô toàn thể này, sự qui chiếu về Chúa Giêsu phải là tuyệt đối. Dostoievski xác tín:“Tôi tin rằng không có gì đẹp hơn, không có gì sâu xa hơn, không có gì thiện cảm hơn, không có gì hữu lý hơn, không có gì mạnh mẽ hơn, và không có gì hoàn hảo hơn Chúa Kitô”.

Còn Thánh Patrice thì nói cách mạnh mẽ: “Chúa Kitô ở với tôi, Chúa Kitô ở trong tôi, Chúa Kitô ở sau lưng tôi, Chúa Kitô ở trước mặt tôi, Chúa Kitô ở bên cạnh tôi, Chúa Kitô đến nắm tay tôi, Chúa Kitô đến an ủi tôi, Chúa Kitô đến bổ sức cho tôi, Chúa Kitô ở dưới chân tôi, Chúa Kitô ở trên đầu tôi, Chúa Kitô ở trong sự bình tâm, Chúa Kitô ở trong hiểm nguy, Chúa Kitô ở trong trái tim của những người yêu mến tôi. Chúa Kitô ở nơi môi miệng của bạn hữu cũng như của người xa lạ.”

Đi xa hơn, Thánh Vinh sơn đệ Phaolô khuyên: “Bạn hãy nhớ rằng chúng ta sống trong Chúa Kitô nhờ cái chết của Chúa Kitô, và chúng ta phải chết trong Chúa Kitô để được sự sống của Chúa Kitô, đời sống chúng ta phải được giấu ẩn trong Chúa Kitô và tràn đầy Chúa Kitô, và để rồi nếu muốn được chết như Chúa Kitô thì phải sống như Chúa Kitô.”

 Còn Thánh Gioan Tiền Hô ước muốn “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải bé đi”, và Thánh Phaolô xác tín: “Tôi sống, nhưng không còn là tôi mà là Chúa Kitô sống trong tôi.” - “Những gì xưa kia tôi cho là có lợi thì nay vì Đức Kitô tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi[20].

Cầu mong cho mỗi người chúng ta ngày càng cam kết đi theo chính Chúa Kitô toàn thể, và có thể nói được cùng với Thánh Phaolô: “Ai có thể tách biệt chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?... Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta. “Đúng thế, tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta[21].

Tuy nhiên chúng ta vẫn phải luôn cảnh giác, vì trong thực tế, rất nhiều lần chúng ta đã để một ai đó hay một cái gì đó tách biệt Chúa Giêsu ra khỏi tình yêu và cuộc đời của chúng ta, cho dù không hề có cái gì tách biệt chúng ta ra khỏi tình yêu của Chúa Giêsu: chúng ta có thế nào đi nữa thì Ngài vẫn hằng thương yêu chúng ta, và thương yêu chúng ta cho đến cùng.

4. Bước thứ tư: BIẾN ĐỔI VÀ ĐIỀU CHỈNH DẦN DẦN CUỘC SỐNG

Cái gì cũng có thời gian của nó, không dễ gì mà một sớm một chiều đã đạt được mục tiêu. Vì thế tiến trình tu - sửa phải được khởi sự ngay, không chậm trễ, nhưng cần dần dần biến đổi và điều chỉnh cuộc sống mình cho phù hợp với đời sống ơn gọi linh mục. Mỗi người chúng ta đều ý thức rõ nơi mình có nhiều động lực đang có mặt và sự xung khắc giữa các động lực ấy. Chúng ta phải giải quyết chúng: Động lực nào phù hợp với chức linh mục sẽ được vun trồng thăng tiến; động lực nào không phù hợp phải loại bỏ hay biến đổi.

Về sự dần dần biến đổi, chúng ta liên tưởng đến việc Chúa Giêsu đổi tên cho ông Simon thành Kêpha, nghĩa là Đá Tảng[22]. Đổi tên là đổi con người, đổi cách sống, cách làm việc, cách suy nghĩ, cách đối xử và yêu thương. Cuộc sống của chúng ta sẽ phải từ từ được biến đổi: từ từ sống khác đi, không còn như cuộc sống đã từng sống trước đây nữa, khi còn là một thanh niên đời thường. Con người trần tục sẽ dần dần chết đi để con người thiêng liêng không ngừng được triển nở và lớn lên trong chúng ta.

Tại căn phòng mà Thánh Phanxicô Khó Khăn đã cởi bỏ y phục đặt dưới chân thân phụ trả lại cho cha, từ bỏ đời sống sang giàu và gia tài mình sẽ được hưởng để hiến thân cho Thiên Chúa, ĐTC Phanxicô kêu gọi mọi thành phần Hội Thánh trút bỏ tinh thần thế tục đang làm hại bản thân, đang tiêu diệt Hội Thánh.[23] Nói như Thánh Phaolô là phải cởi bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới, ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, đến độ “tôi sống, nhưng không phải tôi, mà là Chúa Kitô sống trong tôi”.

Biến đổi là chia cắt với cái đi trước, nghĩa là chúng ta từ bỏ một cách sống, một cách hiểu biết đối với Thiên Chúa, với vũ trụ, với chính mình và với tha nhân, tức là con người trần thế bấy lâu nay của mình. Thánh Phaolô khuyên “quên hẳn đàng sau, nhắm thẳng phía trước mà chạy tới”. Mở ra với những gì đang đến, nghĩa là một hiện hữu mới, một ý nghĩa độc đáo và bất ngờ đối với cái đi trước. Như thế, sự trở thành ứng sinh linh mục mở đường vào cuộc sống mới, như là một sự xé rách, một thứ cái chết, nhưng rách để lành, chết để sống; đó là một thứ biến đổi tận căn, một mất một còn trong ý nghĩa một cuộc tái sinh.

Dường như có một đổ vỡ giữa cuộc sống của người thanh niên bình thường và cuộc sống của ứng sinh linh mục. Thật thế, khi chúng ta bước vào đời ứng sinh linh mục, chúng ta dường như không còn sống như một thanh niên bình thường nữa, mà sống như một con người thiêng liêng thuộc về Thiên Chúa, dù vẫn còn có đó con người trần tục trong chính mình. Tính lưỡng diện này vẫn tồn tại lâu dài, có khi suốt cả cuộc đời, trải qua những chiến đấu, dòn mỏng, với thành công và thất bại như Nguyễn Bá Học nói: “Ai từng chiến thắng mà không hề chiến bại? Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần? Nhưng đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu!” Nhưng người ta thường nói “thất bại là mẹ thành công”: chính từ khi thú nhận thất bại trong việc đánh cá suốt đêm không bắt được con nào, nhưng khi vâng lời Chúa Giêsu mà thả lưới, Phêrô bắt được mẻ cá lạ lùng khiến ông tin tưởng theo Chúa, trở nên vị tông đồ cả của Chúa.

Chúng ta có thể nhìn kinh nghiệm đổ vỡ này qua hình ảnh Abraham vâng lời Thiên Chúa ra đi, cắt đứt mọi mối quan hệ cộng đồng và yêu thương với gia đình, với đồng bào và thiên nhiên, rời bỏ quê hương để đi đến một quê hương mới Thiên Chúa sẽ chỉ cho, trở thành thủ lãnh và cha một dân tộc đông đảo như sao trên trời, như cát ngoài bãi biển của những kẻ tin. Như thế, hành trình theo ơn gọi bẻ gãy một nền nếp cuộc đời, ghi khắc một đổ vỡ và thay đổi các giá trị vốn có. Sự đoạn tuyệt đó mở ra một cánh cửa khác, hãy tiến lên và sáng tạo chương tiếp theo của cuộc đời, như thánh Phaolô chia sẻ: “Những gì xưa kia tôi cho là có lợi thì nay vì Đức Kitô tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Kitô và được kết hợp với Người[24].

Trong hành trình biển đổi và điều chỉnh này, ứng sinh không sợ nói lên kinh nghiệm bản thân với các nhà đào tạo, nhất là với vị linh hướng, để có được sự thanh tẩy cần thiết hầu đi vào hành trình thiêng liêng, hướng tới đời sống linh mục. Muốn thế, cần có sự tín nhiệm lẫn nhau thực sự trong tương quan linh hướng, một tương quan tay ba khép kín giữa Chúa Thánh Thần, người thụ hướng và vị linh hướng. Điều quan trọng trong hành trình này là có nơi mỗi người một biến cố lịch sử đánh dấu thời khắc trở thành ứng sinh, và thời khắc đó đánh dấu một bước ngoặt đổi đời trong tất cả công cuộc tìm kiếm và thực thi thánh ý Chúa, như biến cố ngã ngựa của Saolô trên đường Đamas chẳng hạn.

            Sự kiện người đi tu xem ra hiện hữu tách biệt với người đời khiến người ta than phiền đi tu là cắt khỏi cuộc sống (xuất thế). Nhưng một cách nào đó đời tu rồi sẽ trả lại sự chia tách này (nhập thế,, đi làm mục vụ trong thế gian) và sự khác biệt giữa tu và không tu là sống một cách khác hợp với chọn lựa của đời mình: “Chính anh em xưa kia cũng ăn ở như thế, khi anh em còn sống giữa những người ấy. Nhưng nay, cả anh em nữa, hãy từ bỏ tất cả những cái đó[25].

Đổ vỡ này đánh dấu sự khởi đầu của cuộc đời, khiến tu và không tu có sự mâu thuẫn được coi như một sự giết chết: giết chết cái chất trần tục trong con người mình, để cuối cùng được sinh ra trong sự thánh thiêng của con người tu “mặc lấy con người mới đã được Chúa Kitô biến đổi, vì phàm ai ở trong Chúa Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua đi và cái mới đã có đây rồi” như thánh Phaolô nói[26].

Thánh Basiliô Cả biện giải: “Trước khi bắt đầu đời sống mới, bạn phải chấm dứt đời sống cũ. Cũng như những người đã chạy hết một quãng đường mà muốn quay trở lại phải dừng chân và nghỉ ngơi cách nào đó trước khi chuyển hướng ngược lại, thì trong việc đổi đời cũng vậy, xem ra cần phải chết cách nào đó giữa đời sống trước và đời sống sau, vừa chấm dứt những gì thuộc về trước vừa bắt đầu những gì thuộc về sau[27].

Trong sự thay đổi đó, tinh thần theo Chúa Kitô phải là chủ đạo: thay đổi con tim, tâm thức, lối sống và cuộc sống. Luật của sự sống và sinh trưởng là thay đổi, và mỗi chặng đường sinh trưởng của con người đều được ghi dấu bằng những thay đổi quyết định, đòi hỏi sự hợp tác giữa được đào tạo và tự đào tạo dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Quả thế, ai ai cũng nhận thấy rằng tự thay đổi bản thân thì dễ hơn là thay đổi người khác, đồng thời nên thay đổi trước khi bị bó buộc phải thay đổi, kẻo không còn kịp nữa, vì một khi đã bị định kiến rồi thì thật vô phương cứu chữa! Công cuộc đào tạo đích thực phải vượt quá và loại trừ sự định kiến này.

Vậy phải xin ơn cương quyết thay đổi cái có thể thay đổi, can đảm chấp nhận cái không thể thay đổi và ơn khôn ngoan để biết phân biệt cái có thể thay đổi và cái không thể thay đổi (chấp nhận có tật thì có tài, trâu hay có chứng). Muốn cho việc hướng tới đời sống mới này thành công, chúng ta phải đặt mình trong tay Chúa, như cây viết chì trong tay nghệ sĩ, vì “không có Thầy các con chẳng làm được gì hết”, nhưng “với Thiên Chúa, mọi sự đều có thể.”

ĐTC Phanxicô nói đến cái nhìn của Chúa Giêsu làm biến đổi cuộc đời của ông thu thuế Lêvi, và của chúng ta nữa, nếu chúng ta chịu để cho Ngài nhìn chúng ta và được tự do làm công việc của Ngài: “Khi Chúa Giêsu nhìn Matthêu, cái nhìn đó đã chiếm lấy ông hoàn toàn và đã thay đổi cuộc sống của ông. Cái nhìn của Chúa Giêsu luôn làm cho ta trở nên xứng đáng, trao ban cho ta phẩm giá. Đó là một cái nhìn rộng lượng”, cho ta lòng can đảm để đi theo Ngài.

Cái nhìn của Chúa Giêsu luôn nâng chúng ta dậy, không bao giờ để ta lại tại chỗ của mình, không bao giờ hạ ta xuống, không bao giờ làm nhục. Nó mời gọi và khích lệ chúng ta đứng dậy, lớn lên, tiến về phía trước. Cái nhìn của Chúa Giêsu làm cho chúng ta cảm thấy rằng Ngài yêu thương chúng ta. Đó là tình yêu mà “những người thu thuế và tội lỗi” như Matthêu đã trải nghiệm: “Họ cảm thấy rằng Chúa Giêsu đã nhìn họ và cái nhìn của Chúa Giêsu trên họ giống như một hơi thở trên than hồng, và họ cảm thấy như có lửa trong bụng. Chúa Giêsu làm cho họ đứng lên, trả lại cho họ phẩm giá. Ngài biết rõ lòng họ: Bên dưới bùn đất đó có than hồng khao khát Thiên Chúa, muốn được cháy nóng trở lại. Đó là những gì cái nhìn của Chúa Giêsu thực hiện. Chúng ta tiến lên phía trước trong cuộc sống, trong niềm xác tín rằng Ngài nhìn chúng ta, chờ đợi chúng ta. Ước gì cái nhìn của Chúa Giêsu trên cuộc đời chúng ta sẽ là mãi mãi, là đời đời[28].

Lượng lấy sức mình

Chúng ta đã theo ơn gọi đến giờ này, các suy nghĩ, hành động, cách sống và cuộc sống của chúng ta có được biến đổi và điều chỉnh phù hợp với đời sống ơn gọi không? Thích làm linh mục là một chuyện, nhưng có phù hợp với đời sống linh mục hay không lại là một chuyện khác. Những điều kiện bên ngoài, những điều kiện tự nhiên (sức khoẻ, tính tình, trí khôn, khả năng) và những điều kiện tinh thần và thiêng liêng (tinh thần tự hiến, tinh thần trách nhiệm, tinh thần và đời sống thiêng liêng, tinh thần đức tin, tinh thần cộng tác, tinh thần vâng phục, tinh thần nghèo khó, khả năng sống độc thân thanh khiết, tinh thần phụng vụ, tinh thần mục vụ, tinh thần lao động chân tay và trí óc) của chúng ta có phù hợp với đời sống linh mục không?

Tin tưởng vào lòng thương tha thứ của Chúa

Hãy tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa và hãy lạc quan. Đừng quá chú trọng vào lầm lỗi, nhưng hãy chú trọng đến bài học từ lầm lỗi để rút kinh nghiệm mà không lầm lỗi nữa. Chính Chúa Giêsu đã từng nói: “Tội con đã được tha, hãy về bằng an và từ nay đừng phạm tội nữa.” Đừng thất vọng về lỗi lầm quá khứ của mình và của anh em. Hãy xem cách xử sự của Chúa Giêsu: Ngài tha thứ, tin tưởng vào sự biến đổi tốt đẹp trong tương lai, Ngài vẫn tín nhiệm trao cho Phêrô trách nhiệm làm đầu Giáo hội và cho Mađalêna làm sứ giả Tin Mừng Phục sinh. Quả thật “Bản chất của con người là lầm lỗi và bản chất của Thiên Chúa là tha thứ. Và tội thì tha, lỗi thì sửa; mỗi vị thánh đều có một quá khứ và mỗi tội nhân đều có một tương lai; lỗi một thời chứ không lỗi suốt đời”.

ĐTC Phanxicô mô tả Thánh Phêrô là một tội nhân, có nhiều khuyết điểm, nhưng biết tự hạ để được Chúa Kitô dẫn dắt tiến lên phía trước. Ngài mời gọi chúng ta noi gương Thánh Phêrô, bằng cách nhận ra lỗi lầm và mở lòng ra cho Chúa dẫn dắt: “Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mẫu gương của Thánh Phêrô có thể giúp chúng ta hướng về phía trước. Xin cho điều đó làm cho chúng ta tìm kiếm Chúa và tìm gặp được Chúa, để Chúa tìm thấy chính chúng ta. Chúa luôn luôn ở đó, gần gũi chúng ta, tìm kiếm chúng ta. Nhưng đôi khi chúng ta nhìn theo hướng khác vì chúng ta không muốn nói chuyện với Chúa hoặc không muốn để cho Chúa tìm thấy chúng ta[29].

Bí tích Giải tội hữu hiệu hóa cuộc đổi đời

Có sự biến đổi nào hữu hiệu và sâu xa cho bằng sự biến đổi của Bí tích Giải Tội? Qua Bí tích Giải tội, ơn Chúa biến tội nhân thành thánh nhân, biến một con người cũ thành một con người mới hoàn toàn, vì Chúa tha thứ và xóa bỏ sạch hết mọi lỗi lầm.

Tính triệt để của Bí tích Giải tội

Trong hoạt động Tòa Trong về mặt tâm lý, Chủng viện có thể gửi ứng sinh đến với một chuyên gia tâm lý. Vị chuyên gia này với các kỹ năng đặc biệt có thể giúp ứng sinh bộc lộ đến tận những tầng sâu kín của cuộc đời mình mà anh không thể nói với cả vị linh hướng của mình. Nhưng để được chữa lành trọn vẹn, vị chuyên gia tâm lý phải gửi trả lại ứng sinh cho hoạt động của Tòa Trong. Điều đó nói lên giá trị và hiệu quả của Bí tích Giải tội. Chúng ta cảm tạ Chúa và Mẹ Hội Thánh về điều này, đồng thời nỗ lực học hiểu và sử dụng cho nên Bí tích này. ĐTC Biển Đức XVI khẳng định: “bao nhiêu cuộc hoán cải và bao nhiêu cuộc sống thánh thiện thực sự đã bắt đầu từ trong một tòa giải tội!”[30]

Bản chất con người là lầm lỗi, bản chất Thiên Chúa là tha thứ, không có tội gì nặng quá đỗi mà Thiên Chúa không thể tha thứ được, nếu ta thực sự ăn năn trở về đón nhận ơn tha thứ của Chúa: tội thì tha lỗi thì sửa, mỗi vị thánh đều có một quá khứ và mỗi tội nhân đều có một tương lai...Hãy tin tưởng vào sự biến đổi tốt đẹp trong tương lai, nhờ ơn Chúa, với cố gắng bản thân và sự giúp đỡ của kẻ khác[31]. ĐTC Phanxicô “kêu gọi mọi người không bao giờ mất hy vọng và khích lệ linh mục, giám mục hãy ôm lấy các tội nhân và tỏ lòng thương xót họ, vì Thiên Chúa không mệt mỏi để tha thứ[32].

Khi nhắm đến tác dụng hiệu quả của Bí tích Giải tội, ĐTC Biển Đức XVI nhấn mạnh tới sự cần thiết phải mở ra một cuộc “đối thoại cứu độ”. Cuộc đối thoại giữa hối nhân và cha giải tội làm cho việc cử hành Bí tích đáp ứng sít sao hơn với mọi tình huống cụ thể của hối nhân, như nhu cầu hòa giải cá nhân và tái nhập vào tình bằng hữu với Chúa; nhu cầu tìm kiếm sự tiến bộ thiêng liêng; cần một sự biện phân thích đáng hơn về ơn gọi; khao khát thoát khỏi tình trạng hờ hững thiêng liêng và khủng hoảng đời tu. Nhờ những đặc tính cá nhân đó, hình thức cử hành này có thể liên kết với việc linh hướng.

Nhưng trong cuộc đối thoại này phải tránh đề cập trực tiếp đến đệ tam nhân; phải rất cẩn thận và tế nhị trong các câu hỏi và trả lời để vừa bảo đảm được tính cách riêng tư của hối nhân, vừa tránh nguy cơ tố cáo người thứ ba. Cuộc đối thoại tế nhị này sẽ giúp làm sáng tỏ các yếu tố cần thiết hầu có biện pháp và lời khuyên thích ứng giúp hối nhân thay đổi lật sang một trang mới của cuộc đời mà trở nên tốt hơn. Chính vị linh mục cũng được khích lệ rất nhiều trong một kinh nghiệm như thế, nhờ đó ngài có khả năng giúp đỡ những người khác cách hữu hiệu. Chúng ta hãy đối xử với linh mục cũng giống như với bác sĩ: chúng ta khai với bác sĩ từng chi tiết triệu chứng bệnh để bác sĩ biết mà chữa tốt hơn cho chúng ta. Chúng ta tin tưởng ở ông, làm theo lời ông dặn dò và sẽ khỏe hơn! Chúng ta cũng nên nhớ rằng ông đã thấy nhiều bệnh nhân có triệu chứng giống chúng ta và ngược lại. Nếu chân thành nói hết với cha giải tội, ngài sẽ chia sẻ với chúng ta, còn nếu giấu diếm thì chúng ta sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm với Chúa và lương tâm mình.

Bí tích Giải tội giúp thay đổi trí não và con tim chúng ta. Chúa luôn đổi mới lời mời gọi của Ngài, xuyên qua Phúc Âm, các dấu chỉ thời đại, các biến cố thăng trầm của cuộc sống mỗi ngày, thì chúng ta cũng phải đổi mới lời đáp trả của mình cho tương xứng. Mọi việc Chúa làm đều mang dấu ấn của thay đổi và qua những thay đổi ấy, chúng ta được tái sinh, được tồn tại, ngày một tích cực hơn, thánh thiện hơn, nhờ giết chết cái chất trần tục quá khứ và lớn lên trong con người tu đích thực: thay đổi con tim, thay đổi tâm thức, thay đổi lối sống và cuộc sống[33].

Cuộc sinh tồn của Chim phượng hoàng

Về tính biến đổi triệt để của Bí tích Giải Tội, chúng ta có bài học sinh tồn của loài chim phượng hoàng: Phượng hoàng sống lâu nhất trong các loài chim. Nó có thể sống tới 70 năm. Nhưng để tồn tại, nó phải lấy một quyết định sinh tử vào tuổi 40. Lúc đó, các móng vuốt của nó bị yếu đi, mõm nó mọc dài và cong gần chạm tới ngực, đôi cánh trở nên nặng nề vì những chiếc lông cánh to và dài, rất khó bắt được mồi. Nó phải chọn một trong hai: hoặc chết đói, hoặc phải trải qua một cuộc biến đổi đau đớn. Nó phải bay lên chót vót núi, xây tổ ở đó và nghỉ ngơi trong năm tháng. Bền vững và kiên định, nó phải va mạnh cái mõm vào đá cho đến khi nó rụng đi, và nhẫn nại đợi chờ cái mõm mới mọc ra. Rồi nó sẽ dùng cái mõm mới để gỡ đi các móng vuốt cũ. Và với những chiếc vuốt mới mọc, nó sẽ rỉa đi các lông cánh cũ. Năm tháng sau, với những lông cánh mới, mõm và vuốt mới, phượng hoàng sẽ bay trở lại để săn mồi. Nhờ đó nó lấy lại sức mạnh mới cho 30 năm khác nữa.

Dù muốn “không bao giờ đổi thay” với Chúa, đôi khi trong cuộc sống, chúng ta cũng bị “trục trặc” và phải lấy những quyết định khó khăn, “vì cây muốn lặng mà gió không ngừng” hay “dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”, để “bắt đầu, lại bắt đầu” một hành trình mới trên con đường đã chọn.

Nếu đánh ngã được cái tôi cũ, hăm hở thu thập những kỹ năng mới, chúng ta sẽ có thể khảo sát được những tài năng chưa được khám phá ở trong chúng ta để lượng sức đi tới hay đổi hướng. Nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần làm phát sinh những nghị lực mới để chúng ta tiếp tục hành trình ơn gọi của mình. Quên hẳn đàng sau, cứ nhắm phía trước mà tiến bước một cách tốt đẹp hơn: “Những ai cậy trông vào Chúa sẽ được thêm sức mạnh, như thể phượng hoàng, họ tung cánh bay, họ chạy hoài mà không mỏi mệt và đi mãi mà chẳng chùn chân” (Is 40,31).

 

[1] 1 Sm 3, 1-10.

[2] Lc 1, 26-38.

[3] Lc 5,1-11.

[4] Mt 9,9.

[5] Ga 8, 2-11.

[6] Cv 9, 1-18.

[7] Trích bài giảng trong chuyến Viếng Thăm Mục Vụ Cagliari Chủ Nhật 22/9/2013.

[8] Ga 1,35-50.

[9] Thư ĐTC Biển Đức XVI gửi Người Công giáo Ái Nhĩ Lan, Vatican ngày 20/3/2010.

[10] Nói với hơn 6.000 chủng sinh đến từ khắp nơi trên thế giới trong thánh lễ ngày 20/8/2011 -  http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2011/08/20/duc-thanh-cha-voi-chung-sinh/

[11] Nói trong cuộc gặp các chủng sinh và tập sinh hôm 6/7/2013.

[12] Sứ điệp Ngày Thế Giới Giới Trẻ XXX 2015.

[13] ĐGH Biển Đức XVI, Deus Caritas Est, số 1.

[14] Trích huấn từ buổi tiếp kiến chung ngày 23/6/2013.

[15] Optatam Totius số 21.

[16] GL 239,2; 240,2; 246,4; FABC, 7th Plenary Assembly, Spiritual Direction.

[17] ĐTC Biển Đức XVI nói với các chủng sinh ngày 20/8/2011.

[18] Ga 15,16-17.

[19] Gal 2,20.

[20] x. Pl 3,7-14.

[21] Rm 8, 35 - 39.

[22] Ga 1, 40-42.

[23] Vatican Radio ngày 4/10/2013.

[24] Pl 3, 7-9.

[25] Cl 3, 7-8.

[26] 2 Cr 5,17.

[27] Trích Bài đọc 2 Kinh Sách ngày thứ ba Tuần Thánh.

[28] Bài giảng của ĐTC Phanxicô ngày 21/9/2013 tại Nhà Martha, CNA / EWTN News.

[29] Xem bài giảng lễ ngày 17/5/2013 tại Nhà trọ thánh Matta.

[30] ĐTC Biển Đức XVI nói với các tham dự viên khóa học về bí tích giải tội do Tòa Ân Giải Tối Cao tổ chức từ 21/3-11/4/2011 tại Rôma.

[31] x. 1 Cr 6,11.

[32] ĐTC Phanxicô nói trong chuyến viếng thăm mục vụ Hàn Quốc -  http://vietnam.ucanews.com/2014/08/17/thien-chua-khong-bao-gio-met-moi-tha-thu-cho-chung-ta/

[33] x. 2 Cr 5,16.

114.864864865135.135135135250