15/07/2017 -

Phút cầu nguyện

101
Tìm Bánh hằng sống

Tìm Bánh Hằng Sống

Mời bấm vào đây để nghe

Một hôm Chúa Giêsu nhìn đám đông rồi nói với các môn đệ, “Thầy thương đám đông dân chúng như đàn chiên không người chăn dắt. Anh em hãy cầu nguyện để Chúa gởi đến thêm thợ gặt.”

Chúng ta đang rất cần có thêm những người lãnh đạo biết thương dân, thương nước, thương giống thương nòi. Theo dõi tin tức và nhìn những hình ảnh anh chị em đồng bào Việt Nam ở một số nơi trên đất nước bị công an, và nhân viên an ninh, công lực nhà nước cưỡng chế, đàn áp, đánh đập hung bạo, tàn ác, không nương tay, chúng ta không khỏi cảm xúc, uất ức, bất mãn và khó chịu. Có người qúa phẫn nộ nói, “Sao không có ai đập bể đầu, đánh nhừ tử vài thằng cho nó tởn?”

Nhìn công an và an ninh kéo đến đất của Đan Viện Thiên An ở Huế, đập vỡ tượng Chúa Giêsu và kéo đổ thánh gía trên đồi thông, hành hung xô đẩy, đánh đập, vật ngã các linh mục tu sỹ, nhiều người đã kêu lên, “Chúa đâu, sao không phạt đập chết vài đứa cho nó khiếp?” Nhưng bạo lực không thể dẫn đến hòa bình. Bạo lực nếu mạnh hơn thì cũng chỉ có thể tạm ngăn chặn bước tiến của kẻ thù, chứ không bao giờ có thể cảm hóa và thay đổi lòng của kẻ địch. Đức Kitô đã không dùng bạo lực để làm phương tiện chiến thắng lòng con người. Trái lại Ngài đã để cho bạo lực hành hạ Ngài đến chết, và cái chết của Ngài chứng minh là Tình Yêu Chân Lý cao cả hơn bạo lực. Tình Yêu mới đưa đến sự sống mới. Ngài chứng minh cho loài người biết Ngài là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Ngài hy sinh chết đi vì chân lý để cảm hóa lòng người.

Tôi rất cảm phục tinh thần của một số vị linh mục và lãnh đạo tinh thần và những người đang tranh đấu cho nhân quyền cách ôn hòa, nhưng cương quyết trong chân lý ở Việt Nam. Họ điềm tĩnh đấu tranh tỏ bày chính kiến đòi công lý trong chan lý và hòa khí trước sự hung hăng, háo chiến, tàn bạo, chai lòng cứng dạ của các cơ quan và nhân viên an ninh nhà nước. Những cán bộ công an, nhân viên an ninh hành xử như côn đồ đánh đập hành hung anh chị em đồng bào của họ, thật rất tàn ác. Cái hung bạo tàn ác của họ là một trọng tội với dân, với tổ tiên và với trời. Thấy họ tàn ác và trọng tội như thế, chúng ta cảm thấy muốn oán ghét hận thù họ, nhưng thực ra họ đang là những người lầm lạc, đáng thương hơn là đáng ghét. Họ lầm lạc vì đã lạc tình yêu quê hương, mất tình thương đồng bào và quên ơn tổ tiên giống nòi. Họ mất khả năng cảm thông với nỗi xót xa đau thương của người khác. Đa số họ cũng chỉ là những người mê muội lầm lẫn nghe theo lệnh của những kẻ cầm quyền vô lương. Xung đột, đối kháng bạo lực với họ chỉ gây thêm tang thương thù hận và máu đổ cho nhau.

Theo tiêu chuẩn và đường lối của Chúa Kitô và của Kitô giáo, họ đáng thương hơn là đáng ghét. Họ đáng thương bởi vì họ không nhận biết Tin Mừng và Tình Yêu Thương của Thiên Chúa. Họ có tội, và tội của họ thật to với trời và với tổ tiên dân tộc. Với đời thì họ đáng bị luận phạt, nhưng đối với Thiên Chúa và đạo lý Kitô giáo thì họ lại cần được cứu vớt. Họ đáng thương và cần được cứu vớt bởi nếu họ cứ tiếp tục sống và hành xử như thế, họ sẽ không được chung hưởng vinh quang nước trời với Thiên Chúa.  Chúng ta thương linh hồn của họ. Nếu chúng ta baọ động và dùng bạo lực để thanh toán họ, thì bạo lực sẽ không cứu được họ, và cũng chẳng cứu được mình, trái lại chỉ gây thêm máu đổ và tăng hận thù.

Chúng ta chỉ có can đảm và sức mạnh vượt trên bạo lực nhờ lòng tin vào Đức Giêsu Kitô và được nuôi duỡng bởi tinh thần của Đức Kitô, cũng như Mình và Máu của Đức Kitô, Đấng đã tự hiến để dạy nhân loại sống nhân ái yêu thương cho chân lý của sự sống đời đời. Chúa Giêsu muốn nhắc cho chúng ta hãy đi tìm Bánh mang lại sự sống chân thật ấy.

HAI LOẠI BÁNH

"Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê”(Gio 6:27).

Ngài đã nêu lên cho họ hai loại bánh: loại bánh có thể mất đi, và loại bánh có thể tồn tại muôn đời. Ngài cảnh giác họ tránh theo Ngài như một con lừa bước theo ông chủ đang cầm củ cà-rốt. Để hướng tâm trí nhục thể lên đến thực phẩm muôn đời, Ngài đề nghị họ tìm Bánh Nước Trời mà Chúa Cha chứng nhận hay đã niêm ấn. Bánh ở Đông Phương thường được đóng dấu xác nhận bởi thẩm quyền hay là tên của người làm bánh. Tiếng Tulmudic chỉ về người làm bánh có liên hệ đến từ ngữ “đóng dấu.” Giống như bánh được dùng trong Thánh Lễ có dấu in trên đó (với hình con chiên hay cây thánh gía), Chúa cũng ám chỉ rằng Bánh họ nên tìm kiếm là Bánh được chứng nhận bởi Chúa Cha, bánh đó là chính Ngài.

Họ muốn biết thêm dấu chứng cho biết là Chúa Cha đã chứng nhận Ngài; Ngài ban phát bánh, đúng thế, nhưng nó không lạ lùng đủ. Mai-sen đã chẳng cho bánh từ trời đó sao? Lý luận của họ là: Ngài lấy dấu gì để chứng minh là Ngài còn hơn cả Mai-sen? Bởi thế, họ đã coi nhẹ cái phép lạ ngày hôm trước, bằng việc so sánh Ngài với Mai-sen, và bánh Ngài ban cho họ với bánh Ma-na trong sa mạc. Chúa chỉ cho dân chúng ăn một lần, còn Mai-sen đã cho dân chúng ăn suốt bốn mươi năm. Ở sa mạc, dân chúng luôn gọi bánh là “mana,” nghĩa là “Cái gì thế?” Nhưng một lần họ đã chán ngán mana, và họ gọi nó là “bánh chán ngán”; và bây giờ họ làm cho món qùa này nên tầm thường. Chúa đã thách thức họ; Ngài nói ma-na mà họ đã lãnh nhận từ Mai-sen không phải là Bánh Bởi Trời, cũng chẳng phải là nó đến từ trời; hơn nữa, nó chỉ giúp nuôi sống một dân tộc trong một thời gian ngắn. Quan trọng hơn nữa, không phải là Mai-sen đã cho họ ma-na nhưng là chính Cha của Ngài. Sau hết, Bánh mà Ngài ban sẽ nuôi sống muôn đời. Khi Ngài nói cho họ biết Bánh chân thật đến từ trời, họ đã xin:

“Xin luôn ban cho chúng tôi bánh đó.”

Ngài trả lời họ:

Ta là Bánh hằng sống (Gio 6:35).

Đây là lần thứ ba Chúa Giêsu dùng thí dụ từ Cựu ước để chỉ về Ngài. Lần thứ nhất là khi Ngài ví mình như chiếc thang mà Gia-cop đã nhìn thấy, để tỏ cho biết Ngài là Đấng Trung Gian giữa trời và đất. Trong cuộc đàm thoại với Ni-cô-đê-mô, Ngài đã so sánh mình với con rắn đồng, người chữa lành cái thế giới đang chìm đắm và bị đầu độc trong tội lỗi. Bây giờ Ngài nói đến ma-na trong sa mạc, và tuyên bố Ngài là Bánh thật trong khi ma-na chỉ là hình ảnh báo trước về Ngài. Ngài là Đấng đã nói:

Ta là ánh sáng thế gian (Gio 8:12).

Ta là cửa chuồng chiên (Gio 10:7-9)

Ta là người chăn chiên hiền lành (Gio 10:11-14).

Ta là sự sống lại và là sự sống (Gio 11:25).

Ta là đường; là sự thật và là sự sống (Gio 14:6).

Ta là cây nho thật (Gio 11:25).

 Một lần nữa, Ngài làm cho bóng thánh giá xuất hiện. Bánh phải được bẻ vỡ ra; và Ngài, Đấng đã đến từ Thiên Chúa phải là của lễ hiến tế để con người được nuôi dưỡng bởi Ngài. Do vậy, bánh đó phải là Bánh do sự tự hiến chính bản thân Ngài để cứu thế gian khỏi nô lệ tội lỗi và đưa họ vào sự sống mới.

Họ nói: "Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được? " Đức Giê-su nói với họ: "Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết (Gio 6:52-54).

Ngài không chỉ gợi lên hình ảnh chính Ngài là Đấng đã đến từ trời mà còn là Đấng đến để trao ban chính Mình Ngài, hay là để chết. Chỉ ở nơi Đức Kitô Đấng bị chết đi, họ mới hiểu được sự vinh quang của Bánh nuôi sống họ muôn đời. Ở đây Ngài nói về cái chết của Ngài; với từ ngữ “trao nộp” bày tỏ hành vi hiến tế. Mình và Máu của Con Thiên Chúa Nhập Thể, bị khổ hình đến chết, đã trở nên nguồn mạch sự sống muôn đời. Khi Ngài nói, “Mình Ta,” là Ngài nói về bản tính nhân loại của ngài, như “Ngôi Lời trở thành Nhục Thể” có nghĩa là Thiên Chúa Ngôi Lời, hay là Ngôi Con mang lấy tính nhân loại. Nhưng đó chỉ vì tính nhân loại ấy sẽ nối kết với Tính Thiên Chúa muôn đời, hầu Ngài có thể trao ban sự sống vĩnh cửu cho những ai đón nhận Ngài. Và khi nói Ngài sẽ trao ban bánh ấy cho sự sống của thế gian, tiếng Hy Lạp được dùng với ý nghĩa “toàn thể nhân loại.”

Lời của Ngài càng trở nên sầu thảm sâu xa vì lúc đó là mùa Lễ Vượt Qua. Mặc dù người Do Thái nhìn máu huyết cách cung kính, họ dẫn các con chiên của họ lên Giê-ru-sa-lem, nơi máu sẽ được rảy ở cả bốn hướng địa cầu. Cái lạ của lời nói về việc trao hiến thân thể và máu huyết của Ngài đã làm mờ nhạt cái bối cảnh của Lễ Vượt Qua; Ngài có ý nói rằng hình bóng con chiên đã qua đi, và vị trí của nó được thay thế bởi  Con Chiên Chân Thật của Thiên Chúa. Như họ đã có sự hiệp thông với xác và máu của Con Chiên Vượt Qua, thì bây giờ họ cũng có sự hiệp thông với Thân Xác và Máu Huyết Con Chiên Thật của Thiên Chúa. Người đã được sinh ra ở Be-lem, Be-lem có nghĩa là “nhà làm bánh” và Ngài được đặt trong cái máng ăn cho súc vật, bây giờ là cho con người, thua kém Ngài, Ngài lại là Bánh trường sinh cho họ. Mọi sự trong thiên nhiên đều cần có sự hiệp thông để được sống; và qua đó cái thấp kém hơn được biến đổi nên cái cao cả hơn: các hóa chất đi vào thảo mộc, thảo mộc đi vào súc vật, súc vật đi vào nuôi con người. Và con người thì sao? Không phải họ được nâng lên qua sự hiệp thông với Ngài, Đấng đã tự hạ xuống từ trời để làm cho con người được tham dự vào bản tính của Thiên Chúa đó sao? Như Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và nhân loại, Ngài nói, như Ngài đã sống bởi Chúa Cha thế nào thì họ cũng sống nhờ Ngài như vậy:

Như Cha đã sai Thầy, và Thầy sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì người ăn thịt Ta cũng sống nhờ Ta như vậy (Gio 6:58).

Ăn ma-na là vấn đề của thể xác, và ăn mình Chúa Kitô là vấn đề thuộc tinh thần! Sống bởi Đức Kitô như thế còn mật thiết hơn là trẻ em được nuôi bằng sữa mẹ. Tất cả những người mẹ khi cho con bú đều có thể nói, “Ăn đi, đây là thân xác của mẹ; đây là máu của mẹ.” Nhưng thực tế là việc so sánh kết thúc ở đó; vì trong tình liên hệ mẹ con, cả hai cũng là loài người. Trong tình liên hệ giữa Đức Kitô và con người, sự khác biệt là giữa Thiên Chúa và loài người, giữa trời và đất. Hơn nữa, không người mẹ nào phải chết để mặc lấy một hiện hữu vinh quang hơn trong nhân tính trước khi có thể nuôi con bằng việc bú mớm. Nhưng Chúa Giêsu nói Ngài phải hiến sự sống của Ngài trước khi có thể trở nên Bánh Hằng Sống cho những ai tin vào Ngài. Các cây cỏ dùng để nuôi sống súc vật không sống ở một hành tinh khác; các con vật dùng để làm của ăn nuôi con người cũng không sống ở một thế giới khác. Nếu Đức Kitô là “Sự Sống của Thế Gian,” thì Ngài phải ở trong nhà tạm giữa loài người như Em-ma-nu-en hay “Chúa ở cùng chúng ta,” cung cấp một sự sống cho linh hồn như bánh là sự sống của thân xác.

Nhưng tâm trí của những người nghe đã không vượt cao hơn lãnh vực thể xác, như họ đã hỏi:

Làm thế nào ông này có thể cho chúng ta thịt của ông để ăn? (Gio 6:52).

Thật là một điên rồ để một người nào đó lấy thịt mình cho người khác ăn. Nhưng họ cũng chẳng bị để ở trong bóng tối qúa lâu khi Chúa đã giải thích cái sai lầm của họ là Ngài không phải chỉ ‘thuần túy là người’ như mọi người, nhưng Ngài, là Đấng làm “Con Người” để trao ban. Danh hiệu đó ám chỉ đến của lễ đền tội Ngài hiến dâng. Không phải thịt của một Đức Kitô Chết mà những người tin được nuôi dưỡng, nhưng là Đức Kitô Vinh Hiển trên trời, Đấng đã chết, rồi sống lại từ cõi chết, và lên trời. Nguyên việc ăn thịt và uống máu của một người thì chẳng ích gì; nhưng thịt và máu của Đấng là Con Người sẽ mang lại sự sống vĩnh cửu. Khi một người chết đi trong tinh thần vì đã ăn trái cấm trong vườn địa đàng, thì một người cũng sẽ sống lại trong tinh thần qua việc ăn trái của Cây Sự Sống.

Lời Chúa Kitô thật cụ thể rõ ràng theo nghĩa đen, và Ngài đã làm tan đi những giải thích sai lầm, vì bất cứ ai cho rằng Thánh Thể hay Mình và Máu của Ngài trao ban) chỉ là một biểu tượng, hay hiệu qủa của nó tùy thuộc ở xu hướng chủ quan của người đón nhận. Phương cách của Chúa là khi có người hiểu sai về điều Ngài nói thì Ngài sửa cái sai của họ, như Ngài đã làm khi Ni-cô-đê-mô nghĩ “tái sinh” có nghĩa là chui vào trong bụng mẹ một lần nữa. Khi người nào đó hiểu đúng điều Ngài nói, nhưng lại thấy có gì trái tai, thì Ngài nhắc lại điều Ngài nói. Trong bài giảng này, Chúa đã nói lại đến năm lần điều Ngài đã nói về Mình và Máu của Ngài. Ý nghĩa đầy đủ của những lời này đã không trở nên sáng nghĩa hoàn toàn cho đến lúc Ngài chết. Trong di chúc và lời chứng của Ngài, Ngài đã để lại cái mà không một người nào khác có thể để lại như vậy, đó là Mình, Máu, Linh Hồn và Thần Tính của Ngài cho sự sống của thế gian.

Lm John Kha Tran

114.864864865135.135135135250