1.  Dẫn nhập


Năm Thánh 2025 khai mở với chủ đề “Những người hành hương trong hy vọng”; Báo Hoa Hồng cũng lấy chủ đề “Lắng nghe, canh tân và hy vọng”, hạn từ “hy vọng” được nhấn mạnh ở đây và được quảng diễn khắp nơi,  nhưng sao bài viết này lại mở đầu bằng một lời kêu thảm thiết của người bị bỏ rơi? Không lẽ đi “trật đường ray”? Không ! “Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?[1]”. Lời kêu trong Tv 22 này nói lên niềm hy vọng thật sâu sắc : trong vực sâu tăm tối đời người như gặp đau khổ, bệnh tật, bị bỏ rơi, bách hại và mọi điều xấu khác, vịnh gia vẫn cất tiếng kêu cầu với Chúa, khi còn kêu là còn hy vọng, nhất là kêu với Đấng “xưa tổ phụ vẫn hoài cậy Chúa, họ cậy trông Ngài đã độ trì”. Một Thiên Chúa nhân hậu từ bi, luôn “nghe, thấy và xuống để giải thoát” (Xh 3,7-8). Hơn nữa câu mở đầu Thánh Vịnh là lời mời gọi tiếp tục cầu nguyện, nội dung của phần kế tiếp nói lên chính chủ đề.


Ta hãy bắt đầu với lời cầu của người khi gặp nạn, tiếp đến là diễn tiến của cuộc đời và cuối cùng viễn tượng tương lai tương sáng vì đích đến là Thiên Chúa.  

 
2.  Lời kêu cầu khi gặp gian nan


Trong cuộc khổ nạn của Đức Giêsu, các thánh sử[2] trích dẫn Tv 22 này để nói về cuộc thương khó của Ngài, khi bị treo trên thập giá, dường như lời kêu của người bị bỏ rơi, tệ hơn người ruồng bỏ là chính Thiên Chúa, Cha của mình. Nhưng đọc kỹ lại, đây là lời cầu tiếp tục không ngừng trong lúc gian nguy. Vậy nếu còn kêu là còn hy vọng, mà hy vọng thì không làm thất vọng. Ta đừng vội gán tình cảm của mình cho Đức Giêsu để nói rằng Ngài chịu thử thách khi trên thánh giá và cảm như Chúa Cha ruồng bỏ; thực ra đó là lời kinh tiếp tục vang lên cho đến cuối Thánh vịnh, mà lời kinh mở đầu bằng lời than van kể khổ với Chúa, nói tất cả những gì đã và đang xảy ra, thì những lời cuối lại là hy vọng vào một tương lai tươi sáng trong Thiên Chúa của mình.  


Eli, lamah, azabtani : Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?


Lời này được Đức Giêsu lặp lại bằng tiếng Aram (x. Mc 15, 34) như muốn diễn tả tình trạng phiền muộn của người thốt ra. Đau khổ vì như Thiên Chúa ruồng bỏ (c.2-6). Trong nỗi thống khổ tột cùng đã tìm đến Thiên Chúa, Đấng không xa lạ với ông và thốt lên lời than thảm thiết “Lạy Thiên Chúa của con, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?” “Ngày kêu Chúa không lời áp ứng, đêm van Ngài mà cũng chẳng yên”.


Như bao người đau khổ khác trong mọi thời mà Gióp là biểu tượng (x. G 6-7; 9-10). Vịnh gia đặt câu hỏi liên quan đến tương quan giữa Đức Chúa và ông : “sao Ngài ruồng bỏ con?”, nếu hiểu câu hỏi chua cay, mang tính hiện sinh và rất khẩn thiết trong hành trình đức tin của mình cũng như những ai đang đau khổ[3]. Khoảng cách xa vời, với sự im lặng đầy nghi ngờ, một chỗ trống ghê sợ giữa đau đáu của mình và ơn cứu độ từ Đức Chúa mà ông mong đợi. Trong lời than van và câu hỏi, vịnh gia một đàng cho thấy nỗi cay đắng trong tâm hồn trước sự im lặng của Chúa, đàng khác là niềm xác tín đặt nơi Ngài, như sự cứu rỗi duy nhất của ông.

 
Vịnh gia bị hết nỗi đau này đến cái khác : “Thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dể duôi, thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai...nghe cổ họng khô ran như ngói, lưỡi với hàm dính lại cùng nhau, chốn tử vong Chúa đặt vào...áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn” (c.13-22). Có lẽ ở đây tóm kết mọi đau khổ nơi con người này, vậy đó là biểu tượng của mọi cảnh huống xấu nhất trong đời người. Điều quan trọng không phải là nỗi đau nào, hay người nào làm ra chúng, nhưng với tác giả, điều cần chú ý đó là tiếng kêu của người trong bước đường cùng lên Thiên Chúa của mình, và đó là tiếng kêu hy vọng trong nỗi tuyệt vọng.


Tuy nhiên, xem ra tình cảnh hiện tại lại đi ngược. Các tổ phụ van nài liền được cứu nguy...nhưng giờ đây vịnh gia dù con thảm thiết kêu gào...ngày kêu Chúa không lời đáp cứu, đêm van Ngài, không câu trả lời, và “ơn cứu độ nơi nao xa vời ?”. Thiên Chúa của tổ tiên và giao ước được ghi nhận trong Lời Chúa, nghĩa là trong chuyện lịch sử được truyền tụng từ đời này sang đời khác, là Đấng gần gũi đã đáp cứu, nhưng giờ lại không nghe, không đáp lời kẻ van xin ngày đêm đang trong tình trạng nguy hiểm ngặt nghèo, sắp mất mạng. Việc cảm thấy mình bị Chúa ruồng bỏ trong cơn hoạn nạn là nỗi khổ lớn nhất, hơn cả đau khổ bên ngoài đưa đến; đây là nỗi đau của kẻ cảm thấy bị phản bội trong tình yêu như Gióp đau khổ trong thân xác và tâm hồn.


Nhưng đọc kỹ lại thì đây lại là lời xác tín, bởi tác giả bắt đầu bằng việc xác tín “Chúa của con, Chúa của con, sao Chúa lại bỏ rơi con?[4]”. Vịnh gia tuyên xưng Thiên Chúa bằng tên YHWH; Thiên Chúa của cha ông, của giao ước, Chúa trung thành với giao ước Ngài ký kết, thì không bao giờ phá hủy, và tin chắc điều đó, nên đây là câu hỏi tu từ, câu trả lời dĩ nhiên là “không bao giờ !” (Ngài ruồng bỏ con) và đó là lý do để tiếp tục cầu nguyện.


3.  Hy vọng lóe lên trong tăm tối


“Xưa tổ phụ vẫn hoài cậy Chúa, họ cậy trông Ngài đã độ trì”.


Vịnh gia trong đau đớn tâm hồn vì sự im lặng đáng sợ của Thiên Chúa, đã quay về suy niệm lịch sử thánh, lịch sử minh chứng cho Thiên Chúa “Ngài là đấng thánh, được đặt giữa tiếng chúc tụng của Israel”. Ngài luôn độ trì, cứu nguy các tổ phụ để các vị không thất vọng. Thì ra, việc tác giả trông cậy Chúa đã có nền tảng từ Kinh Thánh, từ kinh nghiệm sống của cha ông và từ những bài giáo lý sâu sắc đã được học và từ đó là kinh nghiệm cá nhân của tác giả. Đức tin không phải là điều đương nhiên, đây là hồng ân Chúa ban nhưng cần được nuôi dưỡng và củng cố để có thể tiếp tục hướng dẫn cuộc hành trình của mình. Dẫu rằng đó là nhân đức đối thần, là quà tặng Thiên Chúa ban, nhưng điều đó không loại bỏ việc con người vẫn tiếp tục tìm kiếm và đào sâu thêm.


Nếu vịnh gia trong cơn cùng quẫn, dường như tiến gần đến cái chết, mà vẫn một niềm hy vọng vào Thiên Chúa, vì tổ phụ của họ luôn cậy trông và nhất là Chúa đã độ trì, Ngài chẳng để chính nhân phải nghiên ngửa bao giờ, có khi Ngài để hơi lâu, lời cầu cứu hình như rơi vào thinh không, nhưng ngay cả trong cái thinh không đó thì Ngài đang chứa đựng tất cả, Ngài cũng là cái thinh không, vậy có gì rơi xuống mà không rơi vào tay Ngài. Ta tin Thiên Chúa quyền năng và đáp ứng mọi điều đúng thời đúng lúc trong cái nhìn của Ngài. Vấn đề là làm sao đừng để rơi vào thất vọng : không còn muốn ngẩng mặt lên nhìn Ngài, không còn muốn kêu và cũng chẳng cần giải cứu.  


Điều vịnh gia tin là điều chắc chắn “van nài liền được cứu nguy, đã không thất vọng mỗi khi cậy Ngài”. Quả vậy, niềm hy vọng không làm thất vọng(x. Rm 5,5). Nhưng thực tế ta có thất vọng không? “Có” và ngay cả trong cái “có” đó lại là niềm hy vọng. Có mâu thuẫn không? Hy vọng không phải là nhìn mọi thứ đều đẹp, mọi sự đều tích cực hay giải thích bằng “lời hay ý đẹp”. Nhưng hy vọng là ngay trong điều làm thất vọng, trong tình huống xấu nhất, tệ nhất vẫn còn rút ra được bài học, đó là hy vọng. Dân Israel có lúc dường như như bị xóa sổ, lưu đày hết lần này đến lần khác, hết miền Bắc đến miền Nam. Nhưng “xưa tổ phụ vẫn hoài cậy Chúa” mà nếu còn cậy trông thì còn được độ trì. Không những độ trì trong khoảng thời gian chờ đợi mà còn ngay lập tức, “van nài liền được cứu nguy”. Việc Chúa cứu đúng thời đúng lúc, quả thực Ngài đến trễ nhưng luôn đến đúng lúc, thời khắc của con người khác thời khắc của Ngài, nơi Thiên Chúa mọi sự không bao giờ là trễ !


Người đời có chê cười, có làm cho “thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dể duôi, thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai” cũng không thất vọng; phải chăng những bất tất của con người là điều hiển nhiên, và như vậy cần có niềm hy vọng để vượt qua.


Tại sao có thể hy vọng ngay trong tình cảnh bi đát nhất? Vì : chào đời con được dâng cho Chúa, được Ngài là Chúa tự sơ sinh. Mỗi người là những Nadi được dâng cho Chúa, nếu đã được dâng cho Ngài thì Ngài là Chúa, là Cha, là Đấng cứu độ. Và vì thế Ngài không thể đứng xa mà nhìn con trong cơn hoạn nạn. Có thể khi ta té ngã, Ngài đứng bên đó nhưng không nâng lên, vì Ngài đã cho ta sức mạnh để tự đứng dậy khi vấp ngã, khi tự mình đứng dậy, ta biết phải đứng trong tư thế nào, và nhất là để kiên vững hơn, bền bỉ hơn và hy vọng hơn.


Như một Nadi, Samuel được dâng cho Chúa, thánh hiến để dành riêng cho Ngài và được sai đi làm sứ vụ. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa Chúa ẵm trên tay để chân không chạm đất và không gặp trở ngại nào, nhưng vẫn là một người bình thường với bao điều bất trắc. Vịnh gia còn đau khổ do sự im lặng huyền bí của Chúa, và còn mang nặng nỗi khổ do con người mang lại, trước hết lời nhạo báng, tiếp theo là những hành động tấn công vào thân xác.

 
Bị mắng chửi dể duôi, khinh miệt nhạo cười bởi người đời, thấy mình bị đối xử như loài sâu họ, tình trạng hư thối bỏ đi (x. Xh 16,20) và gần với cái chết hơn bao giờ hết (x. Is 14,11). Chưa xong, nỗi đau lớn hơn khi bị mỉa mai niềm tin vào Đức Chúa “nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó, Người có thương giải cứu đi nào!”. Lời mỉa mai vừa gởi đến vịnh gia vừa gởi Chúa Đấng mà ông tin tưởng, cậy trông. Lại nhắc nỗi đau vịnh gia đang chịu đó là sự im lặng của Chúa.


Thái độ im lặng của Chúa và sự mỉa mai khinh miệt của người đời làm cho vịnh gia cảm nhận sự trái nghịch khác trong tương quan với Chúa: một bên là sự quan tâm đầy yêu thương của Chúa như người mẹ : chăm sóc ngay từ khi còn trong bào thai và sinh ra trong tình yêu mến;  bên kia là tình cảnh bi thương hiện tại. Đối với vịnh gia, tình thương Chúa ấp ủ, bao che từ sơ sinh, ông có mối tương quan đặc biệt với Chúa như tương quan ngôn sứ (x. Is 44, 2; Gr 1,5), một tông đồ (x. Gl 1, 15), người công chính đau khổ như Gióp (x. G 10, 8-11). Vì thế, từ trong nỗi đau chợt vụt lên tia hy vọng, niềm an ủi : Chúa không đành xa kẻ Ngài yêu thương, ấp ủ : “xa con Ngài đứng sao đành, nguy hiểm bên mình không kẻ giúp cho !”.

 
4.  Ơn cứu độ và lời tạ ơn


Lời kết thật đẹp : sau những lời cầu xin, vịnh gia như Gióp 42, 1-6 nhận ra sự hiện diện huyền nhiệm của Chúa, đã kêu lên với niềm xác tín “Ngài đã trả lời con”, và bắt đầu thốt lên những lời khấn hứa sẽ loan truyền và chúc tụng Chúa; sự chuyển đổi từ than van sang chúc tụng là dễ hiểu. Thánh vịnh được sáng tác với những thời điểm khác nhau, và những cung bậc khác nhau của đời người : từ đau khổ đến hạnh phúc.


Trước hết, vịnh gia hứa loan truyền danh thánh Chúa giữa lòng đại hội dân Ngài, cùng với dân thánh, trong phụng vụ, là nơi tốt nhất để cùng nhau cảm tạ, chúc tụng Chúa.


Lời hứa chúc tụng : “con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa, cho anh em tất cả được hay...hỡi những ai kính sợ Chúa, hãy ca tụng Người đi, hỡi toàn thể giống nòi Giacop, nào hãy tôn vinh Người...” có lẽ thời gian đau khổ và thử thách kéo dài thêm cho đến khi được giải thoát. Dĩ nhiên, sự trung thành của Chúa cũng đòi hỏi sự kiên tâm của con người. Từ cảm nghiệm được giải thoát, với niềm xác tín sâu xa, vịnh gia kêu lên và Chúa nhận lời. Lời tuyên xưng đức tin đó biến thành hành động trong những môi trường khác nhau: từ cá nhân đến cộng đoàn đức tin, từ phụng tự đến cuộc sống, từ những người cùng đức tin đến chư dân xa lạ, từ việc cùng nhau dâng lời chúc tụng đến hiến dâng của lễ... Đi xa hơn khung cảnh phụng tự để mời gọi những ai kính sợ Chúa, những kẻ thuộc giống nòi Giacop, dòng dõi Israel nói chung: tất cả những tín hữu trong Israel cùng ca tụng Chúa.


Lý do chúc tụng : Chúa chẳng coi thường, chẳng khinh miệt kẻ nghèo hèn khốn khổ, không đành ngoảnh mặt làm ngơ, nhưng đã thương giải cứu. Tất cả đều xuất phát từ Chúa, “Chúa” làm chủ từ tất cả mọi hành động quan tâm và yêu thương.


“Chịu ơn Người, tôi dâng lời ca ngợi, ngày đại hội toàn dân. Điều khấn nguyền, tôi xin giữ trọn, trước mặt những ai kính sợ Người”. Ngay cả khả năng tạ ơn, chúc tụng Chúa cũng phát xuất từ Chúa, Đấng đã làm bước đầu trong việc giải thoát.  


“Kẻ nghèo hèn được ăn uống thỏa thuê, người tìm Chúa sẽ dâng lời ca tụng. Cầu chúc họ vui sống ngàn đời”.


Những Anawim, người nghèo hèn, người được Chúa yêu thương đặc biệt, không phải vì cảnh nghèo hay tình trạng khốn khổ của họ, nhưng vì họ chọn Chúa, đúng hơn, họ đáp lại lời mời gọi tin vào Chúa và đi vào tương quan mật thiết, tự do chọn Chúa và gắn kết đời mình với Ngài. Người như thế sẽ được “ăn uống thỏa thuê”, không phải của ăn vật chất nhưng là “đất hứa làm gia nghiệp”, họ có tài sản là chính ân lộc Chúa ban và chính Chúa. Những kẻ nghèo hèn này cũng là những kẻ tìm Chúa, khi được tham dự vào bữa tiệc hiệp thông và chúc tụng Chúa, con tim “lebab” họ vui sống mãi muôn đời, vì tin rằng Chúa là Đấng cứu trợ, không từ chối họ.


Vịnh gia không chỉ hài lòng với việc chúc tụng, loan truyền danh Chúa giữa những người sống mà còn : “Mọi kẻ ngủ yên trong lòng đất, sẽ đều bái lạy một mình Người, phàm những ai trở về cát bụi sẽ cùng phủ phục trước thánh nhan. Phần tôi, nguyện sẽ sống cho Chúa”.


Tâm tình chuyển đổi từ than van sang tín thác và chúc tụng. Niềm tin đi từ cá nhân sang cộng đoàn, phải đạt chiều kích loan báo Tin Mừng. Sự sống con người không chỉ dừng lại nơi những bất hạnh cá nhân trên trần, nhưng còn phần thưởng trong chiều khích cánh chung.


Quyền vương đế của Chúa không bị giới hạn với người còn sống, vịnh gia xác tín ngay những kẻ đang ngủ yên trong lòng đất, hay đang trở về với cát bụi cũng bái lạy, phủ phục một mình Chúa. Thiên Chúa mà ông tin là Chúa kẻ sống cũng như người chết. Phải chăng nơi đây lóe lên niềm hy vọng Phục sinh?


Từ ngưỡng cửa của cái “dù con thảm thiết kêu gào, nhưng ơn cứu độ nơi nao xa vời...chốn tử vong Chúa đặt vào...” đến sự phục sinh “mọi kẻ ngủ yên trong lòng đất sẽ bái lạy một mình Người”, đó chẳng phải là niềm hy vọng lớn nhất, cao nhất và đẹp nhất sao?


Từ nỗi thất vọng tột cùng đến niềm hy vọng, niềm vui được cứu thoát, vịnh gia còn một lời nguyện : “phần tôi, nguyện sẽ sống cho Chúa, con cháu tôi sẽ phụng sự Người”.  


Vịnh gia hứa, cam kết sống cho Chúa và dạy cho con cháu phụng sự Chúa. Lịch sử cứu độ cần được thuật lại bởi những ai đã cảm nghiệm cuộc gặp gỡ cá biệt với Chúa, ngay cả ngang qua đau khổ. Mỗi người cần xác tín và loan truyền như vịnh gia “Đức Chúa đã làm như vậy” với tôi, với cộng đoàn, với thế giới, vì Ngài nắm quyền vương đến, thống trị muôn dân.

 
Tạm kết


Cuộc đời mỗi người đều có những bất trắc, đau khổ, nhưng cũng có hạnh phúc. Trong lúc đau khổ tột cùng sẽ chứng minh được ai là người có đức tin, người còn kêu, còn dâng lên Chúa những lời cầu nguyện (có thể là lời than, trách) trong thực tại, thì vẫn là người còn niềm hy vọng, và hy vọng không làm thất vọng. Vậy Tv 22 là lời cầu nguyện thật đẹp và là niềm hy vọng lớn lao.

 
“Không có Tv nào trình bày cho ta một tâm hồn đẹp, tinh tuyền và gần gũi Đấng Messie như tâm hồn đang tuôn ra nỗi phiền muộn ở đây” (Feuillet)[5]. Tác giả cảm nghiệm một đàng nỗi kinh hoàng của sự cô đơn, chết, vắng bóng Thiên Chúa khi kẻ thù hiện diện. Đàng khác, lại cảm nghiệm niềm vui và hạnh phúc khi được Thiên Chúa đáp lời và giải cứu. Đức Giêsu cũng mang thân phận con người như vịnh gia, trừ tội lỗi.


Thư Hr 2,12 đã trích dẫn c. 23 đã muốn thuyết phục các độc giả hiệp thông vào đau khổ Đức Giêsu, để qua đó họ được nâng lên hàng anh em, được cùng hiệp thông với Ngài trong vinh quang.


Đức Kitô vẫn tiếp tục cầu nguyện bằng Tv này qua Giáo Hội, vì các tín hữu vẫn tiếp tục bị khinh miệt, mỉa mai, bách hại...bởi thế lực sự dữ. Dù Giáo Hội vẫn tiếp tục dâng lời nguyện tha thiết, các thử thách vẫn đủ mọi hình thức trong thế giới và trong lòng Giáo Hội. Đức Giêsu và vịnh gia bước vào con đường thánh giá với niềm tín thác và lòng trung thành, để có thể đạt niềm vui lớn lao vì được cứu độ. Mỗi người được mời gọi trở thành chứng nhân điều đó trong môi trường mình sống. Xin lấy lại hai câu mở và kết của Tv 22 để nói lên niềm hy vọng mãi nơi Thiên Chúa :


Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao?

...xưa tổ phụ vẫn hoài cậy Chúa, họ cậy trông Ngài đã độ trì.

...

Phần tôi, nguyện sẽ sống cho Chúa, con cháu tôi sẽ phụng sự Người.

Thiên hạ sẽ nói về Đức Chúa cho thế hệ tương lai,

truyền tụng cho hậu sinh đức công chính của Người, rằng : “Đức Chúa đã làm như vậy !”

 

Catarina Thùy Dung

 

Thư mục

Feuillet A. (1968). Introduction à la Bible. Ed : Desclee.

La Bible de Jérusalem (1979). Ed du Cerf. Paris.  

Nhóm Giờ Kinh Phụng Vụ. (2011). Kinh Thánh.

Phạm Hữu Quang, Nguyễn Văn Bình, (2018). Sách Thánh Vịnh. Tìm hiểu, giải thích, suy niệm, cầu nguyện. NXB : Đồng Nai.

 



[1]Bản dịch của Giờ Kinh Phụng Vụ, ấn bản 2011.

[2]X. Mt 27, 46, Mc 15, 34.

[3]Phạm Hữu Quang, Nguyễn Văn Bình, Thánh Vịnh, tìm hiểu, giải thích, suy niệm, cầu nguyện. tr. 207-208.

[4] Dịch từ “Mon Dieu, mon Dieu, pourquoi m'as-tu abandonné ? La Bible de Jérusalem, Ps 22, 2.

[5]Feuillet A. (1968). Introduction à la Bible. Ed : Desclee. tr. 143.