Trong thông điệp nói về vẻ cao cả của con người, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã nhắc đến một bản giao hưởng, một tác phẩm nghệ thuật và một bộ phim như những công trình mang “ý nghĩa gần như ngôn sứ”. Đoạn 122 của Magnifica Humanitas viết một phần như sau: Thật vậy, chính vì chúng ta trải nghiệm những giới hạn sự mong manh, đau khổ và thất bại mà chúng ta có thể nhận ra phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi con người, cả nơi chính mình lẫn nơi người khác. Trong cùng kinh nghiệm ấy, chúng ta vẫn có khả năng trực giác về một tình huynh đệ vượt trên bản thân mình, và nhận ra bất công như một điều gây phẫn nộ. Văn hóa và nghệ thuật chân chính gìn giữ tia lửa này, chống lại sự “bình thường hóa điều ác”. Vì thế, một số tác phẩm đã mang ý nghĩa gần như mang tính ngôn sứ: Bản Giao hưởng số 9 của Beethoven có thể được xem như một khát vọng hiệp nhất; Guernica như một lời tố cáo sự phi nhân hóa; và Danh sách của Schindler như một lời kêu gọi đừng để quá khứ rơi vào quên lãng.
Đức Bênêđictô XVI về Bản Giao hưởng số 9 của Beethoven
Bản Giao hưởng số 9 của Ludwig van Beethoven là bản giao hưởng hoàn chỉnh cuối cùng của ông, được sáng tác từ năm 1822 đến 1824, và được trình diễn lần đầu ngay trong năm hoàn tất. Tác phẩm này được coi là một trong những kiệt tác âm nhạc vĩ đại nhất của nhân loại. Chương thứ tư và cũng là chương cuối của tác phẩm được biết đến với tên gọi nổi tiếng “Khúc hoan ca” (Ode to Joy). “Lối trình diễn đầy nhạy cảm và cuốn hút Bản Giao hưởng số 9 của Beethoven, một minh chứng nữa cho tài năng xuất chúng của họ sẽ còn vang vọng trong tôi rất lâu và sống mãi trong ký ức tôi như một món quà đặc biệt,” Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã nói như vậy sau một buổi hòa nhạc năm 2007. Thực vậy, Đức Bênêđictô đã xem sự vĩ đại của những tác phẩm như bản giao hưởng này là một bằng chứng cho Kitô giáo. Riêng đối với bản giao hưởng này, ngài nói rằng: “nó luôn khơi dậy trong tôi một niềm kinh ngạc mới mẻ.” Sau đó, ngài tiếp tục đưa ra một suy tư về bản giao hưởng này và chính kinh nghiệm đau khổ, giới hạn của Beethoven, điều đã góp phần làm nên tác phẩm ấy:
Sau nhiều năm sống trong sự cô lập nội tâm và một đời sống khép kín, trong đó Beethoven phải vật lộn với những khó khăn cả bên trong lẫn bên ngoài, những điều gây nên nơi ông sự chán nản và nỗi cay đắng sâu sắc, đe dọa bóp nghẹt khả năng sáng tạo nghệ thuật của ông, thì vào năm 1824, nhà soạn nhạc, lúc ấy đã hoàn toàn điếc, đã khiến công chúng kinh ngạc với một tác phẩm phá vỡ hình thức truyền thống của thể loại giao hưởng và, với sự kết hợp của dàn nhạc, hợp xướng và các giọng solo, đã vươn tới một đoạn kết phi thường tràn đầy lạc quan và niềm vui. Điều gì đã xảy ra?
Chính âm nhạc giúp những người lắng nghe cách chăm chú có thể phần nào nhận ra điều nằm ở nguồn cội của sự bùng nổ niềm vui bất ngờ này. Cảm xúc hân hoan mãnh liệt được diễn tả qua âm nhạc ở đây hoàn toàn không hời hợt hay nông cạn: đó là một tâm tình đạt được qua nỗ lực, sau khi vượt thắng sự trống rỗng nội tâm của một con người bị sự điếc lác đẩy vào cô lập, những quãng năm trống rỗng ngay từ đầu chương một và bầu khí u ám luôn xen vào chính là biểu hiện của thực tại ấy. Tuy nhiên, trong sự cô đơn thinh lặng đó, Beethoven đã học được một cách lắng nghe mới, vượt xa khả năng đơn thuần tưởng tượng âm thanh của những nốt nhạc mà ông đọc hay viết. Trong bối cảnh ấy, một lời huyền nhiệm của ngôn sứ Isaia vang lên trong tâm trí tôi: khi nói về chiến thắng của chân lý và công chính, ông viết: “Ngày đó, người điếc sẽ nghe được lời của sách, và từ cảnh tối tăm mù mịt, mắt người mù sẽ thấy rõ” (x. Is 29,18-24). Ở đây, người ta được nói đến một khả năng cảm nhận sâu xa một ân ban Thiên Chúa ban cho những ai được giải thoát cả bên ngoài lẫn bên trong.
Guernica của Picasso và câu trả lời của ông trước một người Đức Quốc xã
Cộng hòa Tây Ban Nha đã đề nghị họa sĩ nổi tiếng người Tây Ban Nha sáng tác một tác phẩm cho Hội chợ Thế giới Paris năm 1937. Ngay sau đó, vào ngày 26 tháng 4 năm 1937, Hitler và Mussolini, nhằm bày tỏ sự ủng hộ phe Quốc gia trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha, đã san phẳng thị trấn nhỏ Guernica bằng nhiều đợt ném bom. Tất cả các nạn nhân đều là dân thường. Kiệt tác khổng lồ của Picasso, dài hơn 7,5 mét và cao hơn 3 mét, chính là câu trả lời của ông trước thảm kịch này, mà ông đã đọc được qua báo chí tại Paris. Người ta kể lại rằng khi đại sứ Đức Quốc xã Otto Abetz nhìn bức tranh và hỏi họa sĩ: “Có phải ông đã làm điều này không?” Picasso đã trả lời: “Không. Chính các ông đã làm.”
Bức tranh mô tả một người mẹ đang than khóc đứa con đã chết, một người đàn ông đang van xin, một con ngựa bị xé nát cùng nhiều hình ảnh khác, tất cả được thể hiện trong gam màu đen, trắng và xám, diễn tả sự tàn phá khủng khiếp của chiến tranh. Hiện nay, tác phẩm được trưng bày thường trực tại Madrid.
Danh sách của Schindler
Bộ phim năm 1993 này kể lại câu chuyện về Oskar Schindler, người đã cứu sống khoảng 1.000 người tị nạn, phần lớn là người Do Thái Ba Lan, khỏi nạn diệt chủng Holocaust bằng cách tuyển họ làm việc trong các nhà máy của mình. Bộ phim đã giành được bảy giải Oscar và được xem là một trong những bộ phim hay nhất mọi thời đại.
Đức Giáo Hoàng Lêô cũng đưa hai bộ phim khác về Thế chiến II vào danh sách bốn phim yêu thích của ngài
- Giai điệu hạnh phúc (The Sound of Music)
- Cuộc sống tươi đẹp (Life Is Beautiful)
Tác giả: Kathleen N. Hattrup
Nguồn: https://aleteia.org/2026/05/25/symphony-painting-and-movie-that-pope-leo-calls-prophetic/
Mary Pauline lược dịch
