Nhẹ nhàng khép lại những lá thư mà các e nội trú vừa gửi để cất vào vali, tôi mỉm cười mãn nguyện. Hạnh phúc khi có cái gì để cho và nhận lại bao tình thương mến. Ít ngày nữa khi trở về Sài Gòn, tôi sẽ trân trọng gói gém tất cả vào túi hành trang đời tu của mình. Tạ ơn Chúa, cảm ơn Mẹ Hội dòng đã cho tôi có cơ hội trải nghiệm năm đầu tiên sứ vụ nơi núi rừng Tây Nguyên thân thương này.
Nhớ lại những ngày đầu bước vào Thình viện, Dì giáo đưa cho tôi một tờ giấy trong đó có hỏi về ước mơ của tôi. Không suy nghĩ đắn đo, tôi mạnh dạn viết: “Con ước mơ được đi truyền giáo”. Dường như đó là câu trả lời chung chung cho những đứa mới bước vào đời tu như tôi, chứ thật ra, tôi không hiểu rõ về điều mình muốn. Nghe nói người truyền giáo thì phải thật mạnh mẽ, phải hy sinh và phải có khả năng chịu cực chịu khổ. Nghĩ tới đây tôi đâm sợ, vì tôi vừa mỏng manh gầy gò, lại nhút nhát, không biết có làm nổi trò trống gì không!
Cái gì đến cũng sẽ đến. Ước mơ bồng bột ngày ấy thành hiện thực như một phép màu. Không còn là nỗi sợ với đủ thứ tưởng tượng vô căn cứ. Chín tháng trôi qua đủ để cho tôi thấy quyền năng và ân sủng của Chúa luôn song hành trong từng phút giây. Tôi dần trở nên cứng cáp như cây xanh đã quen vươn mình giữa cái nắng gắt của vùng đất đỏ.
Tôi được giao sứ vụ dạy học và chăm sóc sức khỏe các em nội trú. Nơi đây, các em dạy tôi về sự đơn thành chân chất. Lớn lên với núi rừng, con suối, lòng các em hiền ngoan như cây như cỏ. Tôi trở nên như người chị, người bạn, không có một khoảng cách hay sự phân biệt nào. Các em thoải mái bộc bạch cho tôi đủ thứ chuyện trên đời: chuyện gia đình, chuyện ở lớp, ở trường, chuyện tình cảm và cả những ước mơ của các em. Không khó để nhìn thấy nụ cười trên môi và những cái ôm ấm áp các em dành cho tôi mỗi ngày. Đó là động lực giúp tôi cố gắng để vừa trao tri thức vừa dạy các em cách học làm người. Cũng có những lúc mỏi mệt vì công việc, tôi trở nên mất kiên nhẫn. Nhưng dần dần tôi dễ đón nhận sự hạn chế về lãnh hội tri thức nơi các em và động viên mình rằng: “Thà nghèo, thà bất tài mà đơn sơ chất phác, còn hơn giàu có, thông thái mà gian dối bất công”.
Với tôi, cơ hội tuyệt vời nhất là khi tôi được thấy và tiếp xúc gần gũi với bệnh nhân phong. Không còn là những ý niệm trong Kinh Thánh, giờ đây, tôi có cái nhìn thực tế về căn bệnh này. Những đôi chân, đôi tay bị cắt ngắn là tàn tích còn lại sau những cơn đau khủng khiếp. Dầu bị xã hội và nhiều người xa lánh, tôi vẫn thấy ánh mắt họ sáng lên một niềm tin vào Thiên Chúa, một niềm hy vọng để sống còn. Mỗi ngày gặp gỡ để chuyện trò và thăm hỏi sức khỏe, tôi luôn nhận được nụ cười tươi và lòng biết ơn. Cái đẹp về nghị lực nơi các bệnh nhân dạy tôi học cách trân trọng những thứ tôi đang có, bằng lòng với mọi thứ tôi đang thụ hưởng và yêu đời với trái tim tràn đầy lạc quan.
Không chỉ phục vụ bệnh nhân phong, tôi may mắn được cộng tác với qúi dì trong việc phát thuốc, điều trị tại phòng khám cũng như tại các buôn làng. Những ngày tháng đầu, việc tiếp xúc với anh em sắc tộc là cả một vấn đề. Tôi hơi e ngại với mùi trên cơ thể của họ. Nhưng dần dần, Chúa đã giúp tôi vượt qua ranh giới của sự khác biệt. tôi trở nên gần gũi và yêu thương họ nhiều hơn. Mỗi lần lắng nghe nỗi lòng của họ về bệnh tật, về cái nghèo, cái khổ… Mỗi lần nhìn những em bé bị ghẻ lở khắp người vì không đủ điều kiện vệ sinh, tôi thấy chạnh lòng. Hình ảnh Chúa nơi những con người ấy mỗi ngày một tỏ hiện nơi tôi. Tôi cố gắng hết sức với ước mong mong sao họ sớm lành bệnh và có một cuộc sống tốt đẹp. Càng ngày tôi nhận ra: ngang qua những khí cụ Chúa dùng dẫu lắm giới hạn, Chúa mang lại cho họ ơn chữa lành. Niềm vui đến đôi khi đơn giản lắm: nhìn thấy người khác được hạnh phúc, an mạnh. Ý nghĩa cuộc đời đâu ẩn giấu trong những gì vĩ đại, to tát nhưng đơn giản hé lộ nơi những cử chỉ nhỏ bé, đơn sơ.
Sống trong cộng đoàn bé nhỏ, tôi có cái nhìn thực tế về đời tu. Không còn là những ảo mộng lấp lánh như thuở ban đầu, đời tu dần lộ rõ trước mắt tôi như hai mặt của một tấm vải. Nơi ấy, những con người bằng da bằng thịt vẫn đang phải vật lộn với cuộc hiện sinh thu nhỏ: có xung khắc, có hiểu lầm, có đố kị, có ghen ghét…Nơi ấy, cái đời vẫn len lỏi và làm biến chất căn tính của người tu sĩ. Nhưng rồi, ngẫm lại, tôi vẫn thấy đời tu đẹp. Đẹp vì dù đầy giới hạn, mọi người đều được Chúa mời gọi bước theo Người để vươn tới “ĐỨC ÁI” trọn hảo. Đẹp vì dù sau những vấp ngã tổn thương, mọi người thấy mình nên vững chãi cững cáp và thấu hiểu nhau hơn…Những xác tín về ơn gọi và sứ mạng trong tôi ngày một bén rễ sâu nơi tình yêu của Đức Ki-tô. Và sau hành trình sứ vụ dù chập chùng gian khó, tôi vẫn nói với Người rằng: “Con vẫn muốn theo Người”.
Mai đây khi trở lại Sài Gòn, túi hành trang của tôi không nhẹ tênh với những tấm thiệp nhưng nặng trĩu hoa quả được mùa: đó là những bài học, những kinh nghiệm và cả niềm xác tín về ơn gọi, về sự quan phòng của Chúa. Hành trang đời tu sẽ chỉ còn là ân sủng khi tôi đủ tin để nhìn thấy bàn tay Chúa vẫn âm thầm thêu dệt đời mình trong mọi biến cố. Như vậy là hạnh phúc rồi, đúng không bạn?
Hoa trắng
