Sáng nay, sau khi những tấm hình cuối cùng được ghi lại, sân nhà Dòng dần trở nên yên ắng. Tôi ngồi lại bên hiên nhà nguyện mở chiếc máy ảnh trên tay, lướt qua từng khung hình vừa chụp. Ánh sáng từ màn hình hắt lên soi rõ những gương mặt rạng rỡ dưới tà áo dòng trắng thanh tao, làm nền cho tấm pano khắc ghi dấu ấn của một chặng đường: 25 năm, 50 năm hồng ân thánh hiến.

Lòng tôi chộn rộn những cảm xúc khó tả trước những bức ảnh ấy. Tôi là người được trao nhiệm vụ ghi lại những khoảnh khắc của ngày vui, thế nên mỗi lần bấm máy, tôi ý thức mình không chỉ ghi lại một tấm ảnh kỷ niệm, mà còn đang lưu giữ một phần hành trình của những người nữ đã dành cả tuổi xuân và trọn vẹn cuộc đời chỉ để… yêu và được…yêu.

Người đời thường ca tụng những cột mốc này bằng từ ngữ mĩ miều “rực rỡ”... Nhưng khi phóng lớn từng khuôn hình trên màn hình máy tính, tôi nhận ra vẻ đẹp rực rỡ của ngày hôm nay không nằm ở những tấm ảnh được sắp đặt chỉn chu. Vẻ đẹp ấy trú ngụ ở những nếp nhăn nơi khóe mắt, nơi mái tóc đã pha màu, nhưng nụ cười vẫn vẹn nguyên một nét bình an thăm thẳm của năm 50 âm thầm sống trọn lời xin vâng.

Tay tôi dừng lại rất lâu trước một bức ảnh mà tôi cho là đặc biệt. Khuôn hình thu lại bóng dáng một dì tuổi cao sức yếu. Dì không còn đủ sức tự sải bước vươn mình, cũng chẳng còn giữ được sự tự chủ của thời son trẻ. Ở dì lúc này chỉ còn sự bình thản, khiêm hạ nép mình đón nhận sự giúp đỡ của chị em trong từng sinh hoạt nhỏ bé nhất. Nhìn sâu vào đôi mắt dì, một câu hỏi bất chợt vang lên trong tâm trí tôi: Suốt 50 năm qua, dì đã hát bài ca Magnificat của đời mình bằng những cung điệu nào?

Hẳn nhiên, khúc ca ấy chẳng thể mãi ngân vang trên một phím đàn êm ái. Tôi mường tượng lại ngày đầu dì tuyên khấn. Khi ấy, ở độ tuổi ngoài đôi mươi, khúc Magnificat chắc chắn đã được cất lên bằng tất cả sự hân hoan, rạo rực của tuổi trẻ. Đó là tiếng hát của một trái tim đong đầy mơ ước, háo hức đáp đền tiếng gọi của yình yêu. Rồi năm tháng lặng lẽ thoi đưa, vẫn bài ca ấy, nhưng người hát nay đã thấm mệt. Sau nửa thế kỷ, lời kinh "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa" đâu chỉ vang lên trong những ngày nắng đẹp bình yên. Hẳn đã có lúc, khúc ca ấy được cất lên giữa muôn vàn đổ vỡ của sứ vụ, giữa những trái ngang hiểu lầm của đời sống cộng đoàn, trong những đêm dài quằn quại vì bạo bệnh hay những khi hơi tàn sức kiệt. Và trong những khoảnh khắc ấy, lời tạ ơn không còn đơn thuần là thứ cảm xúc thăng hoa của một ngày vui, mà trở thành sự lựa chọn của một đức tin đã qua lửa luyện.

Ngẫm cho cùng, nửa thế kỷ thánh hiến chẳng giống một tấm huy chương lấp lánh kiêu hãnh cài trên ngực áo. Nó giống một chiếc áo sờn vai, chỗ này vá, chỗ kia đắp, nhưng lại ủ ấm và vừa vặn với quý dì đến lạ kỳ. Tôi chẳng dám ca tụng sự hoàn mỹ hay thần thánh hóa đức tin của các dì, bởi tôi biết, mang thân phận con người, quý dì cũng từng có lúc chao đảo, hoài nghi. Nhưng tôi tin chắc một điều: trong những đêm tối tăm và rã rời nhất của phận người, khi khúc ca Magnificat cất lên chỉ còn là những tiếng nấc vỡ vụn, nghẹn đắng, thì chính Thiên Chúa đã cúi xuống, êm ái cất giọng hát nốt phần dang dở thay cho các dì.

Tôi là người chứng kiến, và tôi thấy mình may mắn. May mắn vì được nhìn thấy bài ca Magnificat không chỉ được viết trên giấy, mà được viết bằng chính xương thịt, bằng cả cuộc đời của những người nữ tu bình dị này. Họ cho tôi thấy, 50 năm hồng ân không phải là một đích đến, mà là tiếng "xin vâng" đã rụng rơi hết sự mộng mơ bay bổng, chỉ giữ lại cho mình muôn vàn sự chắt chiu và nhẫn nại. Và bây giờ, nhẩm lại bài ca của đời mình, tôi tin rằng quý dì chẳng mong gì hơn ngoài việc được neo hồn mình thật lâu ở một câu duy nhất: "Thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi".

Thế thôi. Chừng ấy là đủ cho một chuyến đi dài, và cho cả một chốn bình yên để neo đậu.

 Mưa HẠ