Đời sống cộng đoàn là một trong bốn yếu tố quan trọng nhất của đời tu Đa Minh. Dòng Đa Minh được mang tên là Dòng Giảng Thuyết, và giảng thuyết được ví như mặt bàn còn bốn chân bàn là: cầu nguyện, học hành, đời sống cộng đoàn và làm việc tông đồ. Ta sẽ đặt vấn đề: giảng thuyết là gì? Tại sao Dòng Đa Minh được gọi là Dòng Giảng Thuyết? Đời sống cộng đoàn Đa Minh và sứ vụ giảng thuyết liên quan gì với nhau?


1. Đời sống cộng đoàn của Dòng Đa Minh


Mở đầu hiến pháp của Anh Em Giảng Thuyết được ghi như thế này:

Thiên thứ nhất: theo Chúa Kitô

Chương thứ nhất: thánh hiến

Mục I: Đời sống cộng đoàn[1]


Như vậy, ta thấy rằng sống cộng đoàn hết sức quan trọng trong đời tu Đa Minh, là nét đặc trưng hay nói cách khác đó là đặc sủng của Dòng. Nói như vậy có lẽ có người sẽ thắc mắc: “Dòng nào mà chẳng có đời sống cộng đoàn, riêng gì Dòng Đa Minh”. Ta có thể nói về đời sống cộng đoàn của hai Dòng đại diện như thế này: đối với Dòng Biển Đức “các đan sĩ được gọi là sống chung hơn là sống cộng đoàn”, còn dòng Tên thì “ vì sứ vụ họ có thể bỏ đi tất cả những gì liên quan đến đời sống cộng đoàn”[2]. Nhưng Đa Minh thì khác, Đời sống cộng đoàn của Dòng Đa Minh “được xây dựng trên hai yếu tố gắn kết chặt chẽ với nhau: sống chung dưới một mái nhà và nhắm đến đồng tâm nhất trí[3].


Chung sống dưới một mái nhà” của Đa Minh không giống như các đan sĩ sống chung với nhau vì người đan sĩ về bản chất là sống một mình, nên thường gọi là “đan sĩ” (một mình )”[4]. Đời tu Đa Minh sống chung dưới một mái nhà “với tất cả những gò bó của nó, cần phải có tổ chức, có luật lệ chặt chẽ, có giờ giấc chung và tất cả những thỏa thuận phải được mọi người đồng ý, chấp thuận thì cuộc sống cộng đoàn mới được bền lâu, đồng thời mới tôn trọng những nét riêng của mỗi người”[5].


Ngoài việc sống chung dưới một mái nhà, đời tu Đa Minh còn nhắm đến mục đích thứ hai là: “đồng tâm nhất trí”. Đó chính là sống hòa hợp với nhau trong đức ái, cộng đoàn Đa Minh đòi hỏi mỗi thành viên “phải coi đời sống cộng đoàn như một lời giảng thuyết, họ phải nỗ lực không ngừng để đời sống của họ là một lời giảng”. “Cuộc sống phải được tổ chức làm sao để có sự đồng tâm nhất trí. Một điều không bao giờ hoàn tất, không bao giờ đạt được, nhưng luôn mãi là điều ước ao”[6]. Như vậy, đời sống cộng đoàn Đa Minh chi phối toàn bộ cuộc sống của người tu sĩ, họ đặt của cải chung, cầu nguyện chung, cùng chia sẻ với nhau những bữa ăn trong tình huynh đệ, cùng bầu cử, và có giờ chơi chung nữa.Có người nói vui như thế này: “Tu Dòng Đa Minh hay họp mà không bao giờ kết thúc được vấn đề”. Người ta ví von đời sống cộng đoàn Đa Minh như một bản nhạc hòa tấu, mỗi người là một nhạc cụ, mỗi người phải chơi sao để hòa được với nhau tạo nên một bản hòa tấu hay nhất.


2. Giảng thuyết trong cộng đoàn


Bình thường khi nghe đến từ “Giảng Thuyết” người ta nghĩ đến một người “thông minh xuất chúng”, có tài ăn nói, tài hùng biện để có thể đứng trước những cử tọa lớn thuyết trình và mọi người tấm tắc khen… Điều  này đúng nhưng không phải tất cả. Thật vậy, Dòng Đa Minh được mang tên là “Dòng Anh Em Giảng Thuyết”,  Năm 2014 trong dịp giảng thường huấn cho chị em học viện sứ vụ của Dòng nữ Rosa – Lima, cha Bề trên Giám Tỉnh của tỉnh Dòng Đa Minh Việt Nam Giuse Ngô Sĩ Đình đã nói như thế này: “Muốn xét một ứng sinh có phù hợp với ơn gọi Đa Minh hay không thì cứ xét xem người đó có thích giảng hay không.”  Thật vậy, giảng thuyết là bản chất hay còn gọi là đặc sủng của Dòng Đa Minh, là sứ vụ của Giáo Hội ủy thác cho Dòng. Vậy, có phải hết mọi thành viên đều có thể giảng ở trước những cử tọa lớn ? Ai cũng có khả năng hùng biện, có duyên thu hút người khác? Và có phải ai cũng được bề trên sai đi giảng hay không? Chắc chắn không!


Như vậy, người tu sĩ Đa Minh thi hành sứ vụ của Dòng như thế nào? Giảng thuyết trong đời tu Đa Minh rất đa dạng, không nhất thiết là phải đứng trước cử tọa lớn mới gọi là giảng. Điều mà mọi người đều có thể “giảng” đó là “giảng trong cộng đoàn”. “giảng” bằng chính cuộc sống của của họ. Đức cố Giáo Hoàng Phaolo VI đã nói một câu rất nổi tiếng: “Ngày nay người ta cần chứng nhân hơn thầy dạy”. Bởi đó, trong cộng đoàn mọi người sống hòa hợp, yêu thương phục vụ nhau, cùng nhau thì hành sứ vụ của Dòng bằng những việc bổn phận hằng ngày trong hăng say vui vẻ với lòng mến yêu. Cha Bề trên Giám tỉnh cũng nói “giảng thuyết là thiết lập một cuộc đối thoại giữa tôi với Thiên Chúa và với anh chị em”. Đối thoại rất quan trọng vì đối thoại với Thiên Chúa con người sẽ hiểu được ý Chúa, cũng vậy khi con người đối thoại với nhau họ sẽ hiểu nhau và yêu thương nhau, do đó Thiên Chúa đã đối thoại với con người trong suốt dòng lịch sử cứu độ nhất là nơi Đức Giêsu Kitô. Tương quan giữa con người với nhau và con người với Thiên Chúa chỉ có thể thực hiện qua đối thoại, bởi “đối thoại là căn bản của Thiên Chúa và là hình ảnh của Thiên Chúa nơi con người” (Lm Giuse Ngô Sĩ Đình, bài giảng về linh đạo Đa Minh).


Khi nói đến đối thoại là ta nói đến tương quan giữa các ngôi vị. Trong cộng đoàn chúng ta được mời gọi sống mối tương quan giữa các ngôi vị để phát triển ngôi vị bằng cách sống tương quan mà không hủy diệt hay loại trừ ngôi vị người khác.


Trong cộng đoàn người tu sĩ Đa Minh luôn tôn trọng nhau, đó là sự tôn trọng của một Dòng được gọi là “Dòng dân chủ”. ở nơi đó  họ cùng nhau cầu nguyện, cùng chia sẻ bữa ăn huynh đệ, cùng chơi, cùng giúp đỡ nhau trong sứ vụ và bổn phận, đó chính là giảng thuyết. Nơi cộng đoàn của người Đa Minh thì “anh em giảng thuyết phải hết lòng cố gắng thực hành những gì họ có sứ vụ loan báo. Họ phải  coi đời sống cộng đoàn như một lời giảng thuyết. Họ muốn sống một cuộc đời mà tự nó là một lời giảng. Nếu không đạt được điều này họ sẽ đau khổ và cảm thấy xấu hổ trước thất bại của mình[7].


Như vậy, cộng đoàn tu sĩ Đa Minh là nơi mọi thành viên cùng nhau thi hành sứ vụ giảng thuyết của Dòng theo bậc sống và bổn phận của từng người. Bởi đó, trong đời tu Đa Minh có những nhà “giảng thuyết không lời”, đó là: “Những chị em đan sĩ chiêm niệm, những anh em trợ sĩ, những anh chị em gặp thất bại và những người buộc phải thinh lặng[8]. Do đó ta có thể kết luận: không tu sĩ Đa Minh nào được phép nói “Tôi không có khả năng giảng thuyết”.


3. Cùng cộng đoàn thi hành sứ vụ giảng thuyết


Dòng Đa Minh được Giáo Hội giao cho nhiệm vụ Giảng thuyết, sứ vụ này là của Giáo Hội mà Giáo Hội ủy thác cho Dòng thì sứ vụ này là sứ vụ của Dòng.


Mỗi tu sĩ Đa Minh đều thi hành sứ vụ giảng thuyết nhưng họ không làm với tư cách cá nhân mà là với danh nghĩa của Dòng, của cộng đoàn. Khi một tu sĩ Đa Minh thi hành sứ vụ thì sứ vụ đó là của cộng đoàn, người tu sĩ đó phải có ý thức mình thuộc về cộng đoàn, làm việc với danh nghĩa của cộng đoàn. Ý thức “thuộc về” rất quan trọng cho mỗi Kitô nói chung và người tu sĩ Đa Minh nói riêng. Họ phải có ý thức thuộc về cộng đoàn, thuộc về Hội Dòng và thuộc về Giáo Hội.  Ngày xưa khi đi rao giảng Tin Mừng, Cha Đa Minh thường ghé vào cộng đoàn gần nhất nơi cha đang rao giảng, nếu không có cộng đoàn của Dòng Đa Minh thì cha sẽ vào một cộng đoàn dòng khác, ý thức thuộc về của thánh Tổ Phụ không còn giới  hạn bởi một dòng nhưng nó mang tính Giáo Hội. Còn người tu sĩ Đa Minh ngày nay thì sao? Phải thành thật mà nói nhiều tu sĩ nhất là người trẻ khi đi ra khỏi cộng đoàn và đến một nơi nào đó có cộng đoàn của mình thì họ thường “trốn” điều này chúng ta cần nhìn lại bản thân để sám hối và canh tân.  Cộng đoàn chính là hậu phương vững chắc, là giá đỡ cho người tu sĩ thi hành sứ vụ. Vì vậy,  người tu sĩ sẽ bình an và hạnh phúc vì đằng sau họ là một cộng đoàn đang cùng họ thi hành sứ vụ bằng lời cầu nguyện, bằng những sẻ chia, nâng đỡ tinh thần,  vật chấtvà  không mỏi mệt trên hành trình truyền giảng Tin Mừng của Chúa dù cuộc đời có nhiều thử thách gian nan.


Tạm kết


Đời sống cộng đoàn và sứ vụ giảng thuyết của đời tu Đa Minh cả hai đều quan trọng và gắn bó  không thể tách rời, nó được ví như “mình với ta tuy hai mà một, ta với mình tuy một mà hai” đó là hai. Khi người tu sĩ sống gắn bó với cộng đoàn, tôn trọng ngôi vị của nhau qua việc đối thoại, qua sự đồng cảm, chia sẻ và đón nhận nhau, sống yêu thương nhau và cùng nhau yêu mến Chúa là họ đang thi hành sứ vụ giảng thuyết của Dòng.


Rosa



[1] HV Đa minh, Anh EM Giảng Thuyết  hay Anh Em ĐaMinh,  trang 109

[2] Sđd trang 109

[3] Sđd trang 109

[4] Sđd trang 109

[5] Sđd trang 110

[6] Sđd trang110

[7][7] Sdd trang 110

[8] Sdd trang 84