Đời tu không phải là một cuộc trốn
chạy thế gian, hay một nẻo rẽ chỉ để tìm cầu sự an yên cho riêng mình. Công
đồng Vatican II đã khẳng định: đời sống thánh hiến chính là cách để người tu sĩ
cắm rễ sâu nhất vào Nhiệm thể Chúa Kitô. (x. Hiến chế Lumen Gentium, số
44). Tu sĩ không đi tìm sự hoàn hảo cá nhân, họ dấn thân vì Giáo hội bằng cách
can đảm khoác lên mình nếp sống mà chính Con Thiên Chúa đã chọn khi bước vào
trần gian.
Sứ mạng của Giáo hội, suy cho cùng, là
đưa con người trở về hiệp nhất với Thiên Chúa. Nhưng Tin Mừng không thể tự tỏa
sáng nơi những góc khuất của phận người nếu thiếu đi những bước chân dấn thân.
Ở đó, người tu sĩ hiện diện như nhịp đập nơi trái tim Giáo hội. Tông huấn Vita
Consecrata (số 3) đã xác quyết điều này: đời sống thánh hiến không phải là
phần phụ thêm, mà là yếu tố quyết định làm tỏ rạng bản tính sâu xa của ơn gọi
Kitô giáo.
Những thách đố giữa cơn chuyển mình
Để làm tròn sứ vụ, Giáo hội phải chạm
tay vào đời sống thực, phải thấu hiểu những vết thương và khát vọng của con
người hôm nay, hay nói như Hiến chế Gaudium et Spes, là phải đọc được
"những dấu chỉ của thời đại". (x.Gaudium et Spes số 4)
Chúng ta đang sống trong một thế giới
đầy rẫy những nghịch lý: khoa học kỹ thuật chạm đến những đỉnh cao không tưởng,
nhưng ngay dưới chân nó, hàng triệu người vẫn đang vật lộn với đói nghèo. Con
người hiện đại tự hào về sự tự do cá nhân, nhưng lại kiệt sức vì những hình
thức nô lệ mới của xã hội tiêu thụ và những khủng hoảng tâm lý sâu sắc.
Nhìn về bối cảnh Việt Nam, những vết nứt ấy càng hiện rõ.
Cơn lốc toàn cầu hóa và kinh tế thị trường không chỉ khoét sâu khoảng cách giàu
nghèo, mà còn cuốn trôi nhiều giá trị nền tảng. Lối sống thực dụng và khao khát
hưởng thụ đang ăn sâu vào thế hệ trẻ. Nỗi đau đáu này đã được các Giám mục Việt
Nam trực tiếp gọi tên trong Thư chung
2019:
"Cùng với những trào lưu tư tưởng đề cao chủ nghĩa cá
nhân, trần tục hóa, thực dụng và hưởng thụ, một hệ điểm quy chiếu mới đang dần
hình thành, làm thay đổi các chuẩn mực đạo đức truyền thống cũng như những giá
trị trân quý của gia đình... Nhiều người trẻ bị cuốn vào vòng xoáy đó và đánh
mất định hướng cho cuộc đời." (HĐGMVN, Thư chung 2019, số 3).
Chính vì thế, trước sự bung phá đôi
khi đến mức thác loạn len lỏi từ đường phố, trường học cho đến bàn ăn của từng
gia đình, Giáo hội đặt niềm hy vọng lớn lao vào những người sống đời thánh
hiến. Giữa một thế giới đang mất phương hướng, họ được kêu gọi để trở thành
những chứng nhân sống động, minh chứng rằng: dù trong bất kỳ nghịch cảnh nào,
người ta vẫn có thể sống trọn vẹn thuộc về Đức Kitô.
Đi tìm căn tính giữa dòng chảy lịch
sử
Để có thể đứng vững và đáp lại lời mời
gọi tha thiết đó, trước khi làm bất cứ điều gì, người tu sĩ phải trả lời được
câu hỏi: "Tôi là ai?".
Chỉ khi thấu hiểu sự hiện hữu của
chính mình, chúng ta mới biết mình đứng ở đâu giữa cõi đời này. Khát khao tìm
kiếm căn tính không phải là chuyện mới mẻ. Nó là tiếng vọng từ ngàn xưa. Từ
những triết gia cổ đại của Ấn Độ qua bộ kinh Upanishad đã thao thức: "Chúng
ta từ đâu đến? Sẽ đi về đâu? Là do thời gian, tạo hóa hay một Đấng Tối cao định
đoạt?".
Và Kinh Thánh đã đưa ra một câu trả
lời rất đẹp: Con người dù được nhào nặn từ cát bụi mỏng manh nhưng lại mang một
phẩm giá tuyệt mỹ, bởi họ được "sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa"
(St 1, 27). Chính vì mang trong mình hình bóng của Đấng Tạo Hóa, con người được
trao tặng trí tuệ, tự do đích thực và một lương tâm rạng ngời. Chỉ khi trả lời
được câu hỏi "Tôi là ai?", người tu sĩ mới thực sự chạm đến vẻ đẹp sâu
thẳm của ơn gọi thánh hiến, một đặc ân mà Chúa Cha trao ban qua hơi thở của
Thánh Thần.
Để
cuộc đời mang bóng dáng Đức Kitô
Nhìn lại dòng lịch sử, nếp sống tu trì
vốn đã cắm rễ từ những ngày bình minh của Giáo hội. Cội nguồn ấy khởi đi từ một
nhịp sống dung dị được chép trong sách Tông Đồ Công Vụ: cộng đoàn tín hữu sơ
khai đồng tâm nhất trí và san sẻ mọi sự làm của chung (x. Cv 2, 44 – 45). Hạt giống ban đầu ấy rụng xuống các
vùng đất khác nhau, dần nảy nở thành muôn vàn hình thức. Đó là những vị ẩn tu
tìm về sa mạc Ai Cập thế kỷ thứ III như Thánh Antôn, Thánh Phaolô; là kỷ luật
đan tu cộng đoàn dưới thời Thánh Pacômiô và Thánh Basiliô, hay nếp sống dấn
thân vì đức ái của các nữ tu tại Roma do Thánh Marcella và sau này là Thánh
Augustinô dìu dắt. Nhưng dù ở thời đại nào, khoác lên mình tu phục gì, mục đích
cuối cùng của người tu sĩ vẫn là khát khao được trở nên giống Đức Kitô.
Khát khao "đồng hình đồng dạng" ấy không thể trở thành hiện
thực nếu chỉ rập khuôn theo những lề luật nằm im trên giấy. Để thực sự
mang lấy hình ảnh của Chúa, người tu sĩ cần một sức mạnh hoán cải từ bên trong,
và tình yêu Kitô giáo chính là sức mạnh đó. Tình yêu ấy chạm đến cả những góc
mỏng giòn và yếu đuối nhất của phận người, nhào nặn họ thành một thụ tạo mới.
Bằng việc tự nguyện khấn giữ ba lời khuyên Phúc Âm, người tu sĩ chấp nhận gạt
bỏ cái tôi cũ kỹ, rỗng lòng mình ra để nhường chỗ cho Đức Kitô được sống lại
trong chính cuộc đời mình:
Đó là cách sống Tin Mừng một cách
triệt để và say mê nhất. Chính sự khước từ tự nguyện ấy đã mài giũa nên tấm
"căn cước" thiêng liêng của người tu sĩ. Mang lấy bóng dáng của Thầy
Chí Thánh, họ trở thành điểm tựa vững chãi, thắp lên niềm hy vọng và hướng ánh
nhìn của nhân loại về một Nước Trời viên mãn nơi tình yêu là ngôn ngữ duy nhất
còn tồn tại.
Mưa HẠ
