HỌC TINH THẦN “HAI LÚA” NƠI THẦY GIÊSU
Trong cuộc sống của bạn, đã có ai gọi bạn là “hai lúa” chưa? Bạn có suy nghĩ gì? Và phản ứng của bạn lúc đó như thế nào? Với tôi, lần đầu tiên từ nhà Dòng trở về thăm gia đình và bị chúng bạn gọi là “hai lúa”, tôi đã phản ứng rất mạnh, không nói gì, bỏ về ngay lúc đó. Bây giờ nghĩ lại, tại sao lòng tự trọng lại bị tổn thương đến thế...? Có lẽ vì cái tôi trong mình quá lớn, tôi chưa khiêm nhường đủ và tôi chưa thật sự sống tinh thần của người theo Chúa.
Càng sống trong ơn gọi dâng hiến, tôi càng cảm nghiệm được rằng “hai lúa” rất hay và rất hợp với tôi, với đời sống của người tu sĩ đấy chứ. Tôi hiểu ra chân giá trị của “hai lúa” không phải là quê mùa, hèn kém như mình đã từng nghĩ. Nhưng “hai lúa” ở đây có nghĩa là mộc mạc, chất phác, chân thật và yêu thương… Vì thế, tôi không xấu hổ khi ai đó gọi mình là “hai lúa”. Trong thực tế, người ta thường gọi những người đi tu là “hai lúa”. Bởi sự đơn sơ, giản dị, thật thà và hơi “ngố ngố”. Nhưng càng thành hai lúa bao nhiêu, tôi càng nên giống thầy Giêsu bấy nhiêu.
Khi chiêm niệm Tin Mừng, tôi thấy nhiều lần thầy Giêsu thầm nhắc nhở tôi: Hãy trở về sống tinh thần “hai lúa”. Tuy đơn sơ, nhỏ bé nhưng đậm đà tình dân tộc, tình người. Đó chính là cái chiều kích nhân bản mà thầy Giêsu muốn tôi thể hiện tràn đầy trong cộng đoàn, hoặc bất cứ nơi nào tôi sống.
Trong Tin Mừng, tôi thấy thầy Giêsu cũng là một bác nông dân chính hiệu. Cuộc đời của Ngài gắn liền với đồng quê êm ả hơn chốn phồn hoa đô thị. Mặc dù Ngài có nguồn gốc Đế Vương, xuất thân từ dòng tộc Đavít. Nhưng Cha mẹ Ngài đều là những người nông dân lao động cần cù, chất phác, quê mùa. Cha Ngài là ông Giuse làm nghề thợ mộc. Mẹ Ngài là bà Maria, dù Tin Mừng không nói rõ Đức Maria làm nghề gì nhưng có lẽ nghề chính là nội trợ và phụ giúp chồng trong xưởng thợ. Bản thân Ngài, không những có nguyên quán là hai lúa (làng Nazareth) mà còn được sinh ra giữa đồng không mông quạnh, trong hang bò lừa (Lc 2,12). Tuổi thơ Ngài cũng được giáo dục và lớn lên trong xưởng thợ, nơi mảnh ruộng miếng vườn của làng Nazareth. Anh em, bà con, bạn hữu và sau này cả những môn đệ của Ngài cũng đều là những anh chàng hai lúa làm nghề ngư phủ (Lc 5,10).
Ngoài ra, thầy Giêsu còn nói tới tinh thần hai lúa trong các dụ ngôn, chẳng hạn như dụ ngôn người gieo giống (Mt 13,3-9), dụ ngôn hạt cải (Mt 13,31-32), hay dụ ngôn viên ngọc quý được giấu trong ruộng (Mt 13,44-46). Đó cũng chính là biểu tượng của người tu sĩ tự chôn giấu mình đi, không màng đến vinh hoa phú quý, sống vô danh tiểu tốt… Nghĩa là trở nên như hạt giống âm thầm vùi chôn vào lòng đất, chịu thối nát đi để sinh hoa kết quả. Hay như men trong bột, như muối ướp mặn cho đời (Mt 13,33).
Đức Giêsu còn đưa ra nhiều chuẩn mực rất hai lúa để ứng xử trong xã hội: “Trong các con, ai muốn làm lớn thì hãy phục vụ anh em mình” (Mt 20,26). Không những phục vụ mà còn yêu thương, thậm chí hy sinh cả mạnh sống mình vì tha nhân: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu” (Ga 15,13). Chính Đức Giêsu đã làm gương trước, khi cúi mình xuống rửa chân cho các môn đệ, bởi vì: “Con Người đến không phải để người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28). Còn rất rất nhiều những lời khác đầy chất “hai lúa” của thầy Giêsu trong Tin Mừng.
Do đó, học nơi thầy Giêsu sống tinh thần hai lúa trong cộng đoàn, là sống chân thật, ngay thẳng, tự nhiên, có sao sống vậy. Không lươn lẹo luồn lách, mưu mô, xảo quyệt, cũng không khách sáo giả hình như thái độ của người luật sĩ, hay biệt phái. Sống hiền từ ngây thơ, thân thiện từ trong suy tư, ánh mắt, nụ cười, trong từng cử chỉ lời ăn tiếng nói và trong giao tiếp hằng ngày. Yêu thương chị em là không ngừng tôn trọng sự khác biệt về tình nết, học thức, về lập trường; và nhất là luôn tâm niệm, xác tín và nhìn nhận: Chị em là hiện thân của Chúa Kitô. Như lời Thầy Giêsu dạy: “Anh em hãy đón nhận nhau như Chúa Giêsu đã đón nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa” (Rm 12,15). Và như Thánh Gioan tông đồ viết: “Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì không thể yêu mến Đấng mà họ không trông thấy” (1Ga 4,20). Để minh chứng lòng mến Thiên Chúa thực sự, chúng ta phải thể hiện tình mến thương anh chị em là “giới luật mới”, giới luật cụ thể nhất. Khi chúng ta được mời gọi sống tương quan với Thiên Chúa cũng là lúc chúng ta được mời thi thố tình bác ái bạn hữu. Dấu chứng làm cho chúng ta trở thành người của Thiên Chúa, đó là: Chúng ta yêu thương chị em. Yêu thương chị em là không bao giờ làm hại ai, là luôn biết tha thứ, biết cảm thông, biết chịu đựng những yếu tố tinh thần - thể xác của chị em mình, yêu thương là biết chia vui sẻ buồn, tức là biết: “Vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12,15).
Sống tinh thần hai lúa trong cộng đoàn là sống tinh thần chiêm niệm lặng thầm, hòa nhập vào vẻ đẹp thiên nhiên vạn vật và khi đó chúng ta mới ồ thốt lên như Gia cóp: “Quả thật nơi đây có Chúa mà tôi không biết” (St 28,27). Thế nên, sống tinh thần hai lúa là sống vô vị lợi, chọn đường lối khiêm nhu, tự hạ, trở nên trống rỗng, xóa mình ra không… Từ bỏ tất cả như thầy Giêsu: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên”, hoặc “Ai muốn theo Thầy phải từ bỏ chình mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16, 24-25). Cũng như lời của thầy Giêsu nhắn gởi mỗi người chúng ta: “Nếu hạt lúa mì gieo vào lòng đất không chết đi thì sẽ trơ trọi một mình, còn nếu chết đi, mới sinh được nhiều bông hạt khác” (Ga 12,24). Sống tinh thần hai lúa là sống con đường tự hủy của Thầy Giêsu. Ngôi lời đã tự hủy mình ra không để cho con người được gần gũi với Ngài, ở bên Ngài và sống trong Ngài. Thiên Chúa cao vời đã trở nên bình thường, tầm thường trước mắt người thế: Cũng ăn, cũng uống, cũng vui buồn, giận dữ như con người. Thậm chí còn bị người đời coi là tay ăn nhậu, là bạn của phường thu thuế và quân tội lỗi.
Vâng, đó chính là cái nghịch thường, cái tầm thường của thầy Giêsu, những gì cao quý nhất mà Người ban tặng cho con người. Có như vậy, những ngư phủ chài lười rách nát, những tay thu thuế và gái điếm, những lão ăn mày, những tên trộm cướp mới được đến gần Ngài và làm môn đệ của Ngài.
Chính vì thế, hãy học lấy bài học khiêm nhường và hiền lành mang đậm tình “hai lúa” nơi thầy Giêsu. Để qua sự hiền lành đó, chúng ta mới có thể xót thương, tha thứ và đón nhận nhau cách dễ dàng hơn. Chính tình yêu sẽ nâng chúng ta lên một tầm cao mới. Tình yêu sẽ mở rộng trái tim chúng ta, để chúng ta thắng được tính hẹp hòi, ích kỷ. Tình yêu sẽ nâng đỡ sự yếu đuối và nhát đảm, để chúng ta quảng đại dấn thân, và làm triển nở ơn gọi Thánh Hiến, làm chứng cho Chúa nơi trần gian này như lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng Phanxicô: “Nơi nào có Tu sĩ, nơi đó có niềm vui”. Hơn nữa, chúng ta chọn cuộc sống này là sống cùng, sống với và sống để cho đi… Như R.W- Emerson, nhà văn nổi tiếng đã từng nói: “Hạnh phúc là nước hoa mà hễ ta cho người khác thì thể nào cũng nhận được vài giọt cho chính mình”. Đây cũng là cách sống cho bạn, cho tôi, và cho tất cả mọi người, đặc biệt trong năm Thánh Lòng Thương Xót này.
Càng sống trong ơn gọi dâng hiến, tôi càng cảm nghiệm được rằng “hai lúa” rất hay và rất hợp với tôi, với đời sống của người tu sĩ đấy chứ. Tôi hiểu ra chân giá trị của “hai lúa” không phải là quê mùa, hèn kém như mình đã từng nghĩ. Nhưng “hai lúa” ở đây có nghĩa là mộc mạc, chất phác, chân thật và yêu thương… Vì thế, tôi không xấu hổ khi ai đó gọi mình là “hai lúa”. Trong thực tế, người ta thường gọi những người đi tu là “hai lúa”. Bởi sự đơn sơ, giản dị, thật thà và hơi “ngố ngố”. Nhưng càng thành hai lúa bao nhiêu, tôi càng nên giống thầy Giêsu bấy nhiêu.
Khi chiêm niệm Tin Mừng, tôi thấy nhiều lần thầy Giêsu thầm nhắc nhở tôi: Hãy trở về sống tinh thần “hai lúa”. Tuy đơn sơ, nhỏ bé nhưng đậm đà tình dân tộc, tình người. Đó chính là cái chiều kích nhân bản mà thầy Giêsu muốn tôi thể hiện tràn đầy trong cộng đoàn, hoặc bất cứ nơi nào tôi sống.
Trong Tin Mừng, tôi thấy thầy Giêsu cũng là một bác nông dân chính hiệu. Cuộc đời của Ngài gắn liền với đồng quê êm ả hơn chốn phồn hoa đô thị. Mặc dù Ngài có nguồn gốc Đế Vương, xuất thân từ dòng tộc Đavít. Nhưng Cha mẹ Ngài đều là những người nông dân lao động cần cù, chất phác, quê mùa. Cha Ngài là ông Giuse làm nghề thợ mộc. Mẹ Ngài là bà Maria, dù Tin Mừng không nói rõ Đức Maria làm nghề gì nhưng có lẽ nghề chính là nội trợ và phụ giúp chồng trong xưởng thợ. Bản thân Ngài, không những có nguyên quán là hai lúa (làng Nazareth) mà còn được sinh ra giữa đồng không mông quạnh, trong hang bò lừa (Lc 2,12). Tuổi thơ Ngài cũng được giáo dục và lớn lên trong xưởng thợ, nơi mảnh ruộng miếng vườn của làng Nazareth. Anh em, bà con, bạn hữu và sau này cả những môn đệ của Ngài cũng đều là những anh chàng hai lúa làm nghề ngư phủ (Lc 5,10).
Ngoài ra, thầy Giêsu còn nói tới tinh thần hai lúa trong các dụ ngôn, chẳng hạn như dụ ngôn người gieo giống (Mt 13,3-9), dụ ngôn hạt cải (Mt 13,31-32), hay dụ ngôn viên ngọc quý được giấu trong ruộng (Mt 13,44-46). Đó cũng chính là biểu tượng của người tu sĩ tự chôn giấu mình đi, không màng đến vinh hoa phú quý, sống vô danh tiểu tốt… Nghĩa là trở nên như hạt giống âm thầm vùi chôn vào lòng đất, chịu thối nát đi để sinh hoa kết quả. Hay như men trong bột, như muối ướp mặn cho đời (Mt 13,33).
Đức Giêsu còn đưa ra nhiều chuẩn mực rất hai lúa để ứng xử trong xã hội: “Trong các con, ai muốn làm lớn thì hãy phục vụ anh em mình” (Mt 20,26). Không những phục vụ mà còn yêu thương, thậm chí hy sinh cả mạnh sống mình vì tha nhân: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu” (Ga 15,13). Chính Đức Giêsu đã làm gương trước, khi cúi mình xuống rửa chân cho các môn đệ, bởi vì: “Con Người đến không phải để người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28). Còn rất rất nhiều những lời khác đầy chất “hai lúa” của thầy Giêsu trong Tin Mừng.
Do đó, học nơi thầy Giêsu sống tinh thần hai lúa trong cộng đoàn, là sống chân thật, ngay thẳng, tự nhiên, có sao sống vậy. Không lươn lẹo luồn lách, mưu mô, xảo quyệt, cũng không khách sáo giả hình như thái độ của người luật sĩ, hay biệt phái. Sống hiền từ ngây thơ, thân thiện từ trong suy tư, ánh mắt, nụ cười, trong từng cử chỉ lời ăn tiếng nói và trong giao tiếp hằng ngày. Yêu thương chị em là không ngừng tôn trọng sự khác biệt về tình nết, học thức, về lập trường; và nhất là luôn tâm niệm, xác tín và nhìn nhận: Chị em là hiện thân của Chúa Kitô. Như lời Thầy Giêsu dạy: “Anh em hãy đón nhận nhau như Chúa Giêsu đã đón nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa” (Rm 12,15). Và như Thánh Gioan tông đồ viết: “Ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy thì không thể yêu mến Đấng mà họ không trông thấy” (1Ga 4,20). Để minh chứng lòng mến Thiên Chúa thực sự, chúng ta phải thể hiện tình mến thương anh chị em là “giới luật mới”, giới luật cụ thể nhất. Khi chúng ta được mời gọi sống tương quan với Thiên Chúa cũng là lúc chúng ta được mời thi thố tình bác ái bạn hữu. Dấu chứng làm cho chúng ta trở thành người của Thiên Chúa, đó là: Chúng ta yêu thương chị em. Yêu thương chị em là không bao giờ làm hại ai, là luôn biết tha thứ, biết cảm thông, biết chịu đựng những yếu tố tinh thần - thể xác của chị em mình, yêu thương là biết chia vui sẻ buồn, tức là biết: “Vui với người vui, khóc với người khóc” (Rm 12,15).
Sống tinh thần hai lúa trong cộng đoàn là sống tinh thần chiêm niệm lặng thầm, hòa nhập vào vẻ đẹp thiên nhiên vạn vật và khi đó chúng ta mới ồ thốt lên như Gia cóp: “Quả thật nơi đây có Chúa mà tôi không biết” (St 28,27). Thế nên, sống tinh thần hai lúa là sống vô vị lợi, chọn đường lối khiêm nhu, tự hạ, trở nên trống rỗng, xóa mình ra không… Từ bỏ tất cả như thầy Giêsu: “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên”, hoặc “Ai muốn theo Thầy phải từ bỏ chình mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16, 24-25). Cũng như lời của thầy Giêsu nhắn gởi mỗi người chúng ta: “Nếu hạt lúa mì gieo vào lòng đất không chết đi thì sẽ trơ trọi một mình, còn nếu chết đi, mới sinh được nhiều bông hạt khác” (Ga 12,24). Sống tinh thần hai lúa là sống con đường tự hủy của Thầy Giêsu. Ngôi lời đã tự hủy mình ra không để cho con người được gần gũi với Ngài, ở bên Ngài và sống trong Ngài. Thiên Chúa cao vời đã trở nên bình thường, tầm thường trước mắt người thế: Cũng ăn, cũng uống, cũng vui buồn, giận dữ như con người. Thậm chí còn bị người đời coi là tay ăn nhậu, là bạn của phường thu thuế và quân tội lỗi.
Vâng, đó chính là cái nghịch thường, cái tầm thường của thầy Giêsu, những gì cao quý nhất mà Người ban tặng cho con người. Có như vậy, những ngư phủ chài lười rách nát, những tay thu thuế và gái điếm, những lão ăn mày, những tên trộm cướp mới được đến gần Ngài và làm môn đệ của Ngài.
Chính vì thế, hãy học lấy bài học khiêm nhường và hiền lành mang đậm tình “hai lúa” nơi thầy Giêsu. Để qua sự hiền lành đó, chúng ta mới có thể xót thương, tha thứ và đón nhận nhau cách dễ dàng hơn. Chính tình yêu sẽ nâng chúng ta lên một tầm cao mới. Tình yêu sẽ mở rộng trái tim chúng ta, để chúng ta thắng được tính hẹp hòi, ích kỷ. Tình yêu sẽ nâng đỡ sự yếu đuối và nhát đảm, để chúng ta quảng đại dấn thân, và làm triển nở ơn gọi Thánh Hiến, làm chứng cho Chúa nơi trần gian này như lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng Phanxicô: “Nơi nào có Tu sĩ, nơi đó có niềm vui”. Hơn nữa, chúng ta chọn cuộc sống này là sống cùng, sống với và sống để cho đi… Như R.W- Emerson, nhà văn nổi tiếng đã từng nói: “Hạnh phúc là nước hoa mà hễ ta cho người khác thì thể nào cũng nhận được vài giọt cho chính mình”. Đây cũng là cách sống cho bạn, cho tôi, và cho tất cả mọi người, đặc biệt trong năm Thánh Lòng Thương Xót này.
Maria Hồng Hà (Tập sinh)
