Thật hạnh phúc biết bao cho chúng tôi là những người con được gặp gỡ Chúa "lòng kề lòng" ngay tại "nhà tổ" của mình, cộng đoàn Lạc Lâm, một nơi chất chứa biết bao kỷ niệm, bao nhiêu ân tình của các mẹ, các chị, cũng là nơi mà Hội Dòng Đa minh Rosa Lima được thành hình. Một bầu khí vừa ấm áp, vừa linh thiêng làm trào dâng trong tôi những cảm xúc bồi hồi thật khó diễn tả bằng lời nhưng chan chứa lòng biết ơn và niềm cảm mến đối với lớp người đi trước.

 

             "Gặp được Lời Chúa con đã nuốt vào", tâm tình của ngôn sứ xưa như lan tỏa và thấm nhập vào con tim, khối óc của tôi trong những ngày "ở trên núi". Các bài huấn đức từng bước dẫn tôi vào cõi cô tịch của tâm hồn để nhìn lại mối tương quan với Chúa, với tha nhân và với chính mình. Quả thật, con người cứ hay chơi chiêu bài lập lờ, giả bộ "Chúa có biết đâu" nên mới có chuyện "đường đi một mình" nhưng nhìn lại mới thấy "Ngài biết rõ tôi" (Tv 139 ):

Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ

Biết cả khi con đứng con ngồi

Con nghĩ tưởng gì Ngài thấu suất từ xa

Đi lại hay nghỉ ngơi Chúa đều xem xét.

            Có lẽ trong một năm qua, tôi đã để cho những bận rộn của học hành, những lo lắng của công việc bổn phận, những "bụi bặm" của trần gian làm mất đi ý thức của mình về sự hiện diện gần gũi của Thiên Chúa, đồng nghĩa với sự thờ ơ, vô tình của tôi đối với tình yêu và sự chăm sóc của Người. Hôm nay ngồi gẫm lại tôi mới "òa lên" và xác tín rằng "quả thật, Ngài vẫn tín nhiệm tôi" (Ga 15,16). Thiên Chúa còn gần tôi hơn cả chính tôi (Augustino). Cho dù có lúc tôi không được mọi người chấp nhận như tôi là, hay có lúc một người nào đó không thể nói với tôi một lời tử tế như các anh em đã từng đối xử với Giuse chỉ vì thấy ông được cha là Gia-cóp cưng chiều. Cho dù thế Chúa vẫn thì thầm với tôi:

Trước mắt ta ngươi thật quí giá

Vốn được ta trân trọng và mến thương. (Is 43, 4)

            Như vậy, sự cảm nghiệm sống động của Thiên Chúa hic et nun (here and there) cắt bỏ những lo toan của cuộc sống tôi, đem đến cho tôi một sự bình an nội tâm   "không theo kiểu của thế gian" kèm theo một niềm tin đích thực. Niềm tin đó dẫn tôi đến và ở lại trong Lời của Người. Vì Lời Người có sức mạnh giải phóng tôi khỏi những nguyên tắc cứng nhắc chỉ vì sợ mất thể diện. Tôi không còn phải loay hoay tập trung tối đa mọi chuyện để củng cố, vun đắp cho bản thân bởi tin rằng Chúa luôn đón nhận và yêu tôi hoàn toàn vô điều kiện, không phải vì tôi đẹp, cũng không phải vì tôi giỏi hay tôi đạo đức mà là một tặng ân nhưng không.

            Hơn thế nữa, vào "sa mạc", tôi có dịp xét lại ơn gọi của mình trong hành trình theo Chúa và tự hỏi "Đâu là căn tính của người tu sĩ Đa Minh?" Câu hỏi tưởng chừng như rất căn bản và chắc là người tu sĩ Đa Minh nào cũng có câu trả lời. Tuy nhiên không phải thế. Qua những phút giây lặng thầm và cầu nguyện, tôi thiết nghĩ đó là chia sẻ sự sống của Ba Ngôi, cụ thể là chia sẻ thân phận và sứ mệnh với Đức Kitô qua việc suy gẫm Lời và chia sẻ cho người khác những hoa trái mà mình đã chiêm niệm,  đồng thời là sự từ bỏ những dấu chỉ quen thuộc của căn tính trong đức tuân phục "Này em đây, xin sai em đi bất cư nơi nào hội Dòng muốn", xóa bỏ đi ý thức biết được tôi sẽ đi đâu, sẽ làm gì và như thế là được giải phóng khỏi những gánh nặng của tư tưởng "vì ở đâu có Chúa đó là quê hương của tôi" (Thánh Basilio).

            Mỗi hội Dòng có một căn tính riêng và điều quan trọng là tôi cảm thấy vui sướng được ở trong dòng của tôi với tất cả lịch sử, những vị thánh, những tuyền thống của dòng, nhờ đó tôi có thể lớn lên, triển nở trong sự can đảm từ bỏ tất cả những gì mà xã hội cho là quan trọng, để có thể hút được nhựa sống, những tinh hoa của linh đạo Đa Minh với ba lời Khấn. Trong mỗi lời khấn, tôi thấy những cột trụ của căn tính con người bị bỏ lại đàng sau như thế nào. Chúng ta từ bỏ những thứ quen thuộc, những thứ này nói cho chúng ta biết chúng ta là ai? Chúng ta quan trọng ra sao và cuộc sống chúng ta sẽ đi đâu về đâu. Giờ đây, tôi phải xác định rằng, nhiều lúc mình cũng cần "buông bỏ" tất cả và phó thác cho Đấng đã gọi tôi "hãy theo Thầy" (Ga 21, 22). Điều đó cũng có nghĩa là vứt bỏ những biểu tượng có thể làm tôi xa cách người khác như lề thói trưởng giả tạo ra khoảng cách ngày càng lớn giữa khung cảnh sống của tu sĩ và người nghèo, có khi làm mất đi nhựa sống chiêm niệm chỉ vì làm hững việc tâm linh đã quen...và để tiến xa hơn trong việc dìm mình vào trong môi trường mà tôi đang hiện diện.

            Ước gì mỗi ngày sống của chúng ta được hun đúc bởi cuộc gặp gỡ mới mẻ với Đức Kitô, "Ngôi lời đã mặc lấy xác phàm và ở giữa chúng ta" (Ga 1, 14) và thinh lặng lắng nghe, suy gẫm Lời hầu nhờ hoạt động hữu hiệu của Chúa Thánh Thần, Lời ấy nói với chúng ta trong mọi biến cố và qua ta đến với mọi người trở nên niềm vui, dấu chỉ hy vọng cho họ khi gặp thử thách gian nan (1Pr). Và rồi cũng chính Thánh Thần thúc đẩy chúng ta "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho mọi loài thụ tạo" (Mc16, 15).

            Rõ ràng Thánh Tổ phụ đã xây dựng linh đạo cho Dòng dựa trên nền tảng Thánh Kinh và Truyền thống của Giáo hội và cần được hiện thực hóa trong môi trường chúng ta đang sống qua việc trở nên khuôn mặt, đôi tai, cái miệng và xúc giác của Chúa: Khuôn mặt tươi cười với cái nhìn thân thương, dễ mến. Đôi tai để lắng nghe những nỗi niềm, những tâm tư của người khác. Cái miệng để nói lời yêu thương, xây dựng và chữa lành. Nói như Thánh Teresa Avila: "Đức Kitô không có thân xác nào trên trái đất này ngoài thân xác của các bạn, không có bàn tay nào khác ngoài bàn tay các bạn, không có bàn chân nào ngoài các bạn. Chính bởi đôi mắt các bạn mà lòng cảm thông của Đức Kitô được diễn tả cho thế giới; bởi đôi chân của bạn mà người đi làm những điều tốt lành; bởi đôi bàn tay của bạn mà Ngài ban phước lành cho nhân loại", cũng như Thánh Phaolô: "Tôi sống nhưng không phải là tôi mà là Đức Kitô sống trong tôi".

            Thật vậy, lắng nghe Chúa và lắng nghe nhau là một nghệ thuật vĩ đại nhất thế giới. Tôi có dám lắng nghe như Đức Giêsu, Người không sợ lắng nghe bất cứ ai, không sợ bị làm phiền, không sợ mất thời gian. Tiến sâu hơn, chúng ta được mời gọi trở nên xúc giác của Chúa để có đụng chạm đến người khác, truyền cho nhau sự ấm áp, lòng đồng cảm. Và thực tế cần phải thế, vào trước ngày chị em tôi khấn lại, thì một người chị em đến gõ cửa phòng tôi mắt đẫm lệ. Lòng tôi nhói đau khi biết được những u uất, những day dứt trong lòng chị khi quyết định rút đơn không khấn. Gánh nặng tâm lý về gia đình và bè bạn đang đè nặng trên tâm hồn chị. Tôi nguyện thầm "Lạy Chúa, con phải nói gì đây và làm gì đây?". Cuối cùng tôi chỉ biết nắm chặt tay chị, để cho chị gục đầu vào vai tôi mà khóc và thinh lặng nghe chị thổ lộ tâm tình. Đây thật là "Mầu Nhiệm Đức Tin". Chúa vẫn có đó gần gũi, ngay bên mà sao lúc ấy, lúc mà tôi và chị cần Chúa ngỏ lời một cách rõ ràng, cụ thể thì Ngài vẫn cứ im lặng làm thinh. Làm sao để chị hiểu rằng Chúa vẫn yêu thương và đồng hành với chị? Làm sao để chị tin rằng những thử thách của cuộc sống trong khi giúp hiểu Mầu Nhiệm Thập Giá, và tham gia vào đau khổ của Chúa Kitô (x.Cl 1, 24), là tiền đề báo trước niềm vui và hy vọng mà đức tin dẫn đến.

            Chuyện đã qua mà tôi vẫn còn tần ngần suy nghĩ "có phải chăng là do bỏ cầu nguyện mà keo dính mối tương quan với Chúa và chị em ngày càng mất chất? Vì cầu nguyện hệ tại ở việc nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh cách liên lỷ và luôn luôn mới mẻ: nói với Ngài, thinh lặng với Ngài, lắng nghe Ngài hành động và chịu đau khổ với Ngài. Tôi nhìn lại cách cầu nguyện của mình lâu nay và nhận thấy rằng mình cần mở lòng mởi trí để đón nhận "tín hiệu" của Chúa Thánh Thần qua các dấu chỉ và biến cố trong cuộc sống để Chúa biến đổi tôi và để cho dự tính của Người được thực hiện. Nói như Tông huấn Evangelii Gaudium: Sở dĩ thách đố tồn tại là để vượt qua! Chúng ta hãy là những người thực tế, nhưng đừng đánh mất niềm vui, lòng dũng cảm và sự dấn thân được đổ đầy bởi niềm hy vọng nơi chúng ta. Chúng ta đừng để mình bị cướp đi niềm hăng say sứ mạng "nói với Chúa và nói về Chúa" mà hãy trở thành dấu chỉ của niềm hy vọng, mang lại một "cuộc cách mạng của dịu hiền". Cần loại bỏ những hạnh phúc tâm linh bị tách ra khỏi trách nhiệm đối với anh chị em của mình và đánh bại tinh thần thế tục bao gồm việc tìm kiếm hạnh phúc và vinh quang của con người mà không phải vinh quang Thiên Chúa.

            Tuần tĩnh tâm năm nay thật đặc biệt và nhiều ý nghĩa. Chúng tôi bắt đầu "lên núi" vào ngày lễ Chúa Thăng Thiên và "xuống núi" vào ngày lễ Kính Chúa Thánh Thần. Tất cả các chị em đều háo hức sẵn sàng với sứ vụ được trao trong niềm tin yêu phó thác vì tin rằng "Thần Khí Chúa đã sai tôi đi", sai tôi mang Tin vui và tình thương đến cho mọi người bằng cả con người trọn vẹn. Tôi cũng cúi xuống lòng mình và thầm thĩ "Lạy Chúa, xin dùng con như khí cụ bình an của Chúa, để con trở nên đôi tay, khuôn mặt, cái miệng của Chúa" để con trở nên niềm vui cho những người mà con gặp gỡ. Xin cho con đừng nản lòng trước những thất bại hay không mấy kết quả, vì việc sinh hoa kết quả thường vô hình, khó nắm bắt và đo lường như kinh nghiệm của Thánh Phaolô: "Tôi trồng anh Apolo tưới, còn Thiên Chúa mới làm cho nó lớn lên", và như thế "chỉ quyết tâm dấn thân của mình là điều cần thiết".

            Giờ đây, mỗi chị em chúng tôi bắt tay vào sứ vụ "hiện thực hóa linh đạo Đa Minh", những gì mà chúng tôi thu lượm được trong cô tịch đã đến lúc được tỏ bày, những gì nghe được trong tĩnh lặng đã đến lúc được công bố nơi chúng tôi hiện diện. Và kìa, bên cạnh Chúa Phục Sinh Mẹ Maria đứng đó mỉm cười và luôn dõi nhìn từng nhịp bước con thơ. Mỗi khi nhìn lên Mẹ, tôi một lần nữa lại tin vào bản chất cách mạng của truyền giáo là tình yêu và sự dịu hiền.