Cénacle, ngày…tháng…năm…


Anh Giuđa Iscariot thân mến,


Anh là một trong Nhóm Mười Hai, cũng được Thầy chọn gọi ; thê mà hôm nay anh đi gặp các thượng tế. Anh biết rõ thượng tế Anna và Caipha là những người chống đối Thầy, vậy anh gặp họ để làm gì ?


Giá thoả thuận là ba mươi đồng bạc-giá chuộc một người nô lệ theo Luật cũ (x. Xh 21, 32). Hẳn tác giả Tin Mừng đã nhận ra nơi hành động của anh sự ứng nghiệm lời ngôn sứ “họ tính công cho tôi là ba mươi đồng bạc” (Dcr 11, 12). Thiên Chúa bị dân của Ngài ruồng bỏ, bị khinh dể, và bị định giá ngang với một người nô lệ. Anh đã bán rẻ Thẩy của anh như một người nô lệ.


Có lẽ anh không nghĩ và cũng không xếp Thầy vào số những người nô lệ. Nếu khinh thường Thầy, anh đã chẳng cất công theoThầy bấy lâu. Thực ra, không ai biết rõ những gì đã diễ ra trong tâm trí anh lúc ấy. Vì thế, người ta chỉ có thể giả thiết :


Có người cho răng fanh là ngụy quân tử :“bề ngoài thơn thớt nói cười mà trong nham hiểm giết người không dao”. Anh vừa chào Thầy bằng từ « Rabbi -Lạy Thầy », một lời chào kính trong tột bậc dành cho người dạy dỗ mình. Thầy đã dạy anh, đã chữa bệnh tật, trừ quỷ và làm cho kẻ chết sống lại. Thế mà hôm nay anh lại dùng chính nụ hôn, dấu chỉ thân tình để phản bội Thầy. Phải chăng trong lòng anh còn có những giằng co khác ? Anh đang tìm mọi cách để « nộp Thầy ». Anh không nghĩ tình thầy-trò bấy lâu sao ? Người ta kể rằng trong tiểu thuyết « Tiếu Ngạo Giang Hồ » của Kim Dung, Lệnh Hồ Xung bị thầy là Nhạc Bất Quần ruồng bỏ và đuổi ra khỏi phái Hoa Sơn, nhưng anh vẫn trung thành và biết ơn vì đã được làm đệ tử một thời gian. Còn anh thì sao ? Vì lý do gì mà anh lại quyết định phản bội Thầy và bắt đầu thực hiện kế hoạch ấy ? Trong trình thuật Tin Mừng Mt (26, 21-25), chính anh giữ vai trò chủ động : anh gần như là nhân vật chính trong việc nộp Thầy, bởi chính anh là người đã gợi ý cho các thượng tế.


Hay phải chăng anh là người ham tiền ? Matthêunhấn mạnh anh là « một người trong nhóm Mười Hai » (Mt 26, 14), anh biết rõ Thầy Giêsu và anh cũng biết rằng theo Thầy không bảo đảm điều gì cho cuộc sống trần gian (x. Mt 26, 6.13). Tin Mừng Gioan cho biết anh là  người giữ túi tiền và đã từng lấy trộm trong đó (x. Ga 12,6). Người quản lý là chức vụ cần thiết cho cộng đoàn, nhưng việc ăn cắp lại thuộc về lựa chọn cá nhân, không phải là bản chất của chức vụ ấy. Có thể lòng nhiệt thành theo Thầy lúc ban đầu đã phai nhạt ? Đức Giêsu không còn là Thầy và là Chúa của anh mà chỉ vỏn vẹn là món hàng để đổi với giá ba mươi đồng ? Nhưng nếu vì ham tiền mà bán Thầy và bán với giá rẻ mạt thì cũng chẳng lợi lộc gì, chưa kể đến hậu quả tai hại mà anh sẽ phải trả sau này ! Vậy có lẽ đó không phải là lý do sâu xa nhất.


Hay anh đang đặt nơi Thầy một hy vọng khác? Có thể an hmong chờ một Đấng Messia như một vị anh hùng hào kiệt đánh đông dẹp tây để cứu dân, để giải phóng đất nước của anh khỏi nô lệ ngoại bang ? Đó cũng là niềm mong ước của bao người Dothai lúc bấy giờ, đang mong chờ Đấng Messia. Nếu Thầy là Đấng Messia quyền năng, thì dù nộp cho con người, Ngài cũng sẽ tự giải thoát và bày tỏ quyền lực của mình trước thiên hạ. có lẽ anh nghĩ rằng Thầy là một nhà lãnh đạo mạnh mẽ : Đấng làm cho kẻ chết sống lại, chữa bệnh tật và làm chủ cả thiên nhiên, chẳng lẽ Ngài lại không thể  dẹp loạn mà “bình thiên hạ” sao?


Bữa tiệc cuối mang một bầu khí buồn. Trong khi ăn Thầy nói : « một người trong anh em sẽ nộp Thầy ». Các môn đệ bàng hoàng và buồn sầu, từng người hỏi lại “chẳng lẽ con sao?”. Anh biết rất rõ Thầy đang nói về anh và anh cũng đang chuẩn bị thực hiện điều đó. Thế mà anh vẫn hỏi: “Rabbi, chẳng lẽ con sao?”, câu hỏi ấy dường như đã hàm chứa câu trả lời.  


Thầy nói thêm : “khốn cho kẻ nào nộp Con Người, thà nó đừng sinh ra thì hơn!”. Khung cảnh bữa tiệc trở nên nặng nề và u buồn vì sự phản bội đang âm thầm hiện diện. Thầy không trách cũng không cản anh làm điều anh đã chọn, vì Thầy tôn trọng tự do của anh. Con người chỉ thực sự là con người khi họ có tự do. Thiên Chúa không tước bỏ tự do của bất cứ ai, những mỗi người phải chịu trách nhiệm về những chọn lựa của mình.


Lời “khốn cho” ấy không phải là một bản án, những là lời cảnh tỉnh. Phản bội Thiên Chúa là bước vào một sự khốn cùng sâu thẳm. Bỏ Chúa, chối bỏ đức tin và cứu độ với tất cả ý thức và chủ ý của mình, đó là một bi kịch lớn lao, đến nỗi “thà không sinh ra thì hơn”.


Ngày lễ Lá, ngày Thầy Giêsu vào thành Giêrusalem trong tiếng hoan hô vui mừng, tại sao lại gợi nhớ đến anh với khung cảnh buồn như vậy? Có lẽ vì chính anh mở đầu cho cuộc Thương khó của Thầy. Anh đã đi vào một kết cục bi thảm của đời mình.


Thế nhưng long nhân hậu và sự trung tín của Thiên Chúa vẫn theo anh suốt cuộc đời. Biết đâu trước khi nhắm mắt, anh đã thốt lên một lời xin lỗi và xin tha thứ? Thầy Giêsu của anh vẫn luôn ở đó, vẫn luôn sẵn sàng tha thứ và đón nhận.


Trước khi kết thúc, tôi chỉ muốn nhắc lại cho anh một lời của Thầy. Nhưng có lẽ hình ảnh của anh còn vượt ra khỏi chính con người anh để trở thành một biểu tượng : biểu tượng cho tất cả những ai, trong một lúc yếu đuối nào đó, đã phản bội tình yêu của Thầy, phản bội tình nghĩa thuỷ chung của Thiên Chúa, và trong số đó, cũng có cả tôi.


Nhưng ngay cả khi con người phản bội, tình yêu Thiên Chúa vẫn trung tín. Vì thế, tiếng gọi của Thầy vẫn vang lên như một niềm hy vọng cho mọi thời : “Ai tin vào Tôi thì không phải chết bao giờ!”.


Anh có tin điều đó không?


Thân mến chào anh.

Nt. Catarina Thùy Dung