Không chỉ là ‘Tông đồ của các Tông
đồ’, Maria Mác-đa-la còn là mẫu gương với nhiều nhân đức Phục Sinh sâu xa khác.
Chúng ta thường nghe nói rằng Maria
Mác-đa-la là “Tông đồ của các Tông đồ”, vì Thánh nữ là người được sai đi
loan báo tin Chúa Giêsu Phục Sinh cho các môn đệ. Nhưng không chỉ có thế mà
thôi. Ngoài chính Chúa Giêsu và thánh Phêrô, Maria Mác-đa-la là vị thánh được
nhắc đến nhiều nhất trong các Tin Mừng Phục Sinh. Xin đừng bỏ qua những cách thế
khác mà nơi thánh nữ chúng ta thấy một mẫu gương sống đức tin dành cho các Kitô
hữu trong các trình thuật Phục Sinh.
Trước hết: Maria Mác-đa-la là mẫu
gương sống các Mối Phúc và thực hành các việc bác ái.
Thánh Maria Mác-đa-la là một người
Do Thái đạo hạnh, trung thành tuân giữ luật nghỉ ngày sa-bát thứ Bảy. Ngày nghỉ
này bắt đầu khi mặt trời lặn vào chiều thứ Sáu, ngay sau khi Đức Giêsu được mai
táng, và kéo dài đến rạng đông ngày Chúa Nhật. Thế nhưng Tin Mừng theo thánh
Gioan cho chúng ta biết: “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối,
bà Maria Mác-đa-la ra mộ.” Điều đó có nghĩa là chị đã rời nhà đúng vào thời
điểm sớm nhất mà luật cho phép, để có thể phục vụ Đức Giêsu. Và việc phục vụ mà
thánh nữ dự định thực hiện là xức dầu cho thi hài Đức Giêsu — chạm đến cốt lõi
của đời sống Kitô giáo. Chăm sóc người đã qua đời vừa là một việc bác ái thể
lý, vừa là một việc bác ái thiêng liêng. Chính Đức Giêsu đã nói:“Phúc cho ai
sầu khổ, vì họ sẽ được an ủi.”
Thứ hai: Maria Mác-đa-la đã đi lại rất
nhiều trong buổi sáng Phục Sinh.
Hãy thử hình dung số bước chân mà
Maria đã đi trong buổi sáng hôm ấy: Trước hết, thánh nữ đã lần bước trong bóng
tối ra mộ, cùng với những người phụ nữ khác và khi phát hiện ngôi mộ trống, Tin
Mừng theo thánh Gioan kể rằng “bà liền chạy đi” để báo tin cho thánh
Phêrô và thánh Gioan.
Bà chạy đi đâu?
Sau khi Phêrô và Gioan đích thân ra
mộ xem xét, thánh Gioan ghi lại rằng:“Các môn đệ trở về nhà của họ” — danh
từ được dùng ở số nhiều (theo bản dịch của đa số các bản Kinh Thánh). Điều đó
cho thấy rằng, trong cuộc chạy hối hả để báo tin cho hai Tông đồ này, Maria đã
phải dừng lại hai nơi khác nhau — và rồi sau đó, chị còn thực hiện thêm một
hành trình nữa.
Thứ ba: Maria Mác-đa-la cầu nguyện
và kiên trì đi qua những khủng hoảng đức tin của mình.
Như
tôi đã nhắc đến trong chuyên mục “This Sunday” của mình, chỉ cần nhìn thấy
những băng vải liệm trong mộ cũng đã đủ để thánh Phêrô và thánh Gioan tin rằng
Chúa đã sống lại. Nhưng với Maria Mác-đa-la thì chừng đó vẫn chưa đủ. Hai ngài
ra về trong sự an tâm, còn “riêng bà Maria thì đứng ngoài mộ mà khóc.” Các
thiên thần — được nhắc đến trong tất cả các trình thuật về sự Phục Sinh — hỏi bà:“Này
bà, sao bà khóc?” Bà đáp:
“Người ta đã đem Chúa tôi đi rồi, và tôi không biết họ đã đặt Người ở đâu.”
Rồi bà quay người lại.
Tôi
rất thích lời nhận xét của thánh Gioan Kim Khẩu về khoảnh khắc này. Ngài nói:“Tôi
nghĩ rằng khi bà còn đang nói, thì Đức Kitô bất ngờ hiện ra phía sau bà, khiến
các thiên thần phải kinh ngạc; và khi nhìn thấy Vị Thủ Lãnh của mình, họ lập tức
để lộ qua tư thế, ánh mắt và cử động rằng họ đang chiêm ngắm chính Chúa.” Các
thiên thần thì không có thân xác, nhưng chúng ta vẫn có thể hình dung cảnh họ
chợt đứng nghiêm trang, giống như những người lính vừa thấy vị hạ sĩ quan tiến
lại trong hàng ngũ — hay đúng hơn, giống như các khách hành hương khi nhìn thấy
Mặt Nhật Thánh Thể đang tiến đến trong một cuộc rước.
Thứ tư: Maria Mác-đa-la mắc một sai
lầm lớn, nhưng lại nắm bắt đúng những điều cốt yếu nhất.
Khi quay lại và nhìn thấy Đức
Giêsu, Maria đã không nhận ra Người. Điều này rất dễ hiểu đối với bất cứ ai từng
gặp một người quen trong một hoàn cảnh hoàn toàn bất ngờ. Tuy nhiên, điều đáng
nói là bà đã lầm tưởng Người là người làm vườn. Chi tiết này mang ý nghĩa rất
sâu sắc. Trong Tuần Thánh, Đức Giêsu hoàn tất ước muốn của Thiên Chúa là khôi
phục vườn Ê-đen, khu vườn đầu tiên, nơi có ông Ađam — người làm vườn đầu tiên.
Và ở đây, Đức Kitô, Ađam Mới, đang thiết lập một Ê-đen mới, nên Người trông giống
như một người làm vườn. Người là Đấng Gieo Giống thần linh, nhưng mang dáng dấp
của một người gieo giống trần thế;
Người là Người Con của Chủ Vườn Nho, nhưng lại trông như một người làm vườn
chăm sóc nho. Rồi Maria mạnh dạn thưa với người mà bà nghĩ là người làm vườn ấy:“Thưa
ông, nếu ông đã đem Người đi, xin nói cho tôi biết ông đã đặt Người ở đâu, tôi
xin đến mà đem Người về.”Nhà thần học, linh mục Bruce Vawter, đã nhận xét rất
sâu sắc:“Maria nói bằng ngôn ngữ của tình yêu, đến mức không hề nghĩ xem điều
mình đề nghị làm có thực sự nằm trong khả năng của mình hay không.”
Thứ năm: Maria Mác-đa-la mặc khải
hình ảnh Người Mục Tử Nhân Lành.
Chỉ
đến khi Đức Giêsu gọi tên bà “Maria” thì bà mới thực sự nhận ra Người và ôm
chầm lấy Người. Đây là một chi tiết thật đẹp, gợi lại lời Đức Giêsu đã nói trước
đó trong Tin Mừng theo thánh Gioan, khi Người tự xưng là Người Mục Tử Nhân
Lành, Đấng “gọi tên từng con chiên của mình.”Chính Người đã nói:“Chiên
của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng, và chúng theo tôi.”Khi Người gọi
tên bạn, bạn không chỉ biết Người là ai, mà bạn còn hiểu rõ hơn mình là ai nữa.
Lúc này, Maria đã hoàn toàn xác tín, đến nỗi Đức Giêsu phải nói với thánh nữ“Đừng
giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha.”Maria trở nên mẫu gương cho
chúng ta về khoảnh khắc mà mỗi người chúng ta rồi cũng sẽ trải qua:đến cuối cuộc
đời, khi chúng ta nghe Người gọi chính tên mình, và lúc ấy sẽ là thời khắc được
ôm lấy Người — mãi mãi.
Tác giả:Tom
Hoopes
Nguồn: https://aleteia.org/2026/04/05/more-than-apostle-to-the-apostles-magdalenes-other-easter-virtues/
Mary Pauline lược dịch
