Thiếu muối, cơ thể con người có thể đối diện với những hệ quả nghiêm trọng
như phù não, tụt huyết áp, suy giảm chức năng của hệ cơ… Bởi muối giữ vai trò
thiết yếu trong việc cân bằng nước trong và ngoài tế bào, trong lòng mạch máu,
duy trì điện tế bào và dẫn truyền xung động thần kinh. Khi chưa có những kỹ
thuật bảo quản hiện đại, chưa có tủ lạnh hay tủ đông, con người đã biết dùng
muối để giữ thực phẩm, nhất là thịt, cá khỏi bị hư hỏng.
Ánh sáng cũng vậy. Một người có đôi mắt sáng
nhưng bị giam mình trong bóng tối quá lâu cũng sẽ mù lòa. Bản chất của ánh sáng
là chiếu sáng và nuôi dưỡng sự sống. Cây cối không có ánh mặt trời sẽ lụi tàn;
còn cây trồng trong nhà luôn âm thầm nghiêng mình về phía có nắng để vươn lên. Ánh
sáng là gì rất tự nhiên, nguyên nó đã kéo sự chú ý của người ta.
Tin Mừng hôm nay Chúa
khẳng định «anh em là muối cho đời, là ánh sáng cho trần gian », không phải
là “trở nên” mà LÀ. Bản chất của muối là mặn, ánh sáng là tỏa sáng, không thể
ngược lại; vậy câu hỏi « muối mà hết mặn thì lấy gì ướp cho mặn lại ? »
không thể hiểu được! Hết mặn thì không còn là muối, « muối hết mặn »
thì khó hiểu, nhưng người môn đệ đánh mất bản chất của mình thì dễ hiểu. Vậy
bản chất người môn đệ là gì ? Theo nghĩa phủ định : không sống cho
riêng mình, không tách khỏi thế gian, nhưng hiện diện giữa đời để làm cho đời
khác đi.
Muối có nhiều công dụng như tạo hương
vị và ai cũng cần, như sách Gióp 6,6 « hỏi có ai ăn nhạt mà không cần muối ?
Liệu nước rau sám có được chút hương vị nào chăng ? », thứ hai là bảo
quản cho khỏi hư hỏng như Ed 16,4 nêu « ngày mới sinh, không ai lấy nước tắm
rửa cho sạch, chẳng được ai xát muối cho », nghĩa là xát muối để sát
trùng, ngăn ngừa nhiễm trùng, hư hoại. Thứ ba, muối tượng trưng cho sự bền vững,
trung thành không hư nát « các ngươi phải bỏ muối vào mọi lễ phẩm, không
được để lễ phẩm thiếu muối của giao ước của Thiên Chúa. Ngươi phải dâng muối cùng
mọi lễ tiến của ngươi » (Lv 2, 13). Đức Giêsu đặt người môn đệ vào vai trò
làm cho đời có ý nghĩa, ngăn sự băng hoại và giữ giao ước với Thiên Chúa.
Cũng như công dụng của muối, người môn
đệ phải giữ sao cho xã hội khỏi suy thoái, đồng thời giúp thăng tiến, muốn được
như vậy thì thực sự phải là muối, là ánh sáng chứ không thể là thứ gì khác. Chúa
Giêsu nhấn mạnh việc làm chứng, bởi câu cuối liền bài Tin Mừng hôm nay, Mátthêu
nói về việc bách hại, nhiều người vì sợ nên rút lui hay ẩn mình trong sự an
toàn bản thân mà không dám nhận là Kitô hữu, do vậy Đức Giêsu giao cho nhiệm vụ làm muối cho
đời và ánh sáng cho thế gian. Nhờ đó, cho dù có bị sỉ nhục, bách hại (x. Mt 5,
11) mới có thể đưa được người khác về với Chúa và tôn vinh Người.
Muối cho đời : các môn đệ có sứ
mệnh loan báo Tin Mừng.
Ơn gọi của họ đóng một chức năng đối với người khác như muối, là người Kitô hữu, giữ cho xã hội khỏi những sự dữ
đang xâm nhập vào từng ngõ ngách của cuộc sống, và hơn nữaphải làm cho đời sống thêm hy vọng,tín
thác, tình yêu. Phải tan biến vào trần gian để hỗ trợ ai đó khi cần. Sự hiện diện
của người Kitô
hữu không ai có thể thay thế, không ai có thể đứng vào vị trí của họ nếu họ bị
suy yếu. Điều đó Chúa cũng nhắc các môn đệ đừng để đức tin bị nguội lạnh, việc
làm vô hồn, bởi như muối, phải giữ được nguyên giá trị của nói mới có hiệu lực,
một khi chúng không còn giữ được chức năng thì chỉ còn bỏ đi vì giữ lại cũng
không ích gì !
Ánh sáng cho trần gian: Kinh Thánh
nói nhiều đến ánh sáng (x. Xh 3, 2 ; Is 42,6). Gioan gán cho Đức Giêsu chức
năng mà ở đây Mt gán cho các môn đệ : phải là ánh sáng. Nếu bóng tối, banđêm, là biểu tượng của sự ác, thế lực của
ma quỷ (x. Mt 8, 12 ; Lc 22, 53) thì ánh sáng là ơn cứu độ (Tv 27,1), là phúc
lành của Thiên Chúa, được diện kiến và phản chiếu vẻ huy hoàng của Ngài (x. Xh
34, 35). Không ai không nhận ra ánh sáng, không loài thực vật nào không cần ánh
sáng, dù có những loài sống trong phòng kín, tối, nhưng nếu có một ánh mặt trời
chiếu vào, tức thì chúng tự vươn mình hướng về phía ánh sáng. Cũng như ánh
sáng, người Kitô
hữu đang tỏa ra, đang đi vào nơi sâu thẳm của cõi lòng, nơi thầm kín của con
tim để chiếu sáng, để sưởi ấm, để soi cho thấy đường, dẫn đi trên chính lộ và
có thể đưa ra ánh sáng những điểm tối mà ta gặp trong đó.
Thành xây trên núi : theo nghĩa
đen, thành Giêrusalem được xây trên một ngọn đồi, từ nơi đó nhìn xuống thành phố
thấy dân cư và tự nó hiển hiện để mọi người thấy, là điểm thu hút nhiều dân tộc
như lời ngôn sứ Is 2, 2-5 ; 60, 1-2. 19-20. Các Kitôhữu
là ánh sáng được tháp nhập vào thành thánh, từ đó chiếu sáng cho mọi người, hoặc
cũng như chiếc hoa đăng, mọi người nhìn thấy ánh sáng trong đêm, chỉ cho họ biết
hướng mà tiến bước. Kitô
hữu được tháp nhập vào thế gian như một nguồn ánh sáng, từ đó mọi người được
nâng đỡ, định hướng.
Người môn đệ là muối, là ánh sáng, là
thành xây trên núi, bản chất của họ là thúc bách, chiếu soi, lôi cuốn, chỉ đường,
dấu chỉ trước mặt người đời và không thể làm khác bản chất đó. Xuyên qua đời sống
người tín hữu họ phải phải bày tỏ cách thức Thiên Chúa hiện diện trong và qua họ,
đó là dấu chứng để người đời cứ theo dấu này mà nhận biết « anh em là môn
đệ Thầy là anh em có lòng yêu thương nhau » (Ga 13, 35).
Đời người môn đệ xin mãi là: Hạt muối giữ đúng bản chất của chúng
để tan trong thế giới.
Một ánh sáng chiếu
vào đêm tối của u buồn, của thất vọng, của sự chết, để đem người khác đến niềm
vui, hy vọng và tình yêu làm tươi mới.
Thành phố xây
trên núi vừa để nhìn toàn thể dân chúng bên dưới, vừa là cột mốc cho người khác
nhận diện khi bị lạc lối.
Ba điều đó hòa
quyện và trải đều trong đời người tín hữu; xin Chúa cho mỗi người sống trọn vẹn
ba nhân tố đó. Amen.
Nt. Catarina
Thùy Dung
