Ngày thứ nhất: Từ "thụ động thắng" đến "chủ động thua" và lược đồ sứ mạng

Mở đầu tuần tĩnh tâm với đoạn Tin Mừng Mt 17,22-27, Cha Vincente đã dùng phương pháp quan sát năng động nội tâm của Thánh Phêrô để bóc tách khuynh hướng tự nhiên của con người:

"Thụ động thắng": Là trạng thái người tu sĩ bị cuốn theo bản năng thích khẳng định mình, kiểm soát và không chấp nhận thất bại theo tiêu chuẩn thế gian.

"Chủ động thua": Là đỉnh cao của sự tự hủy, khi con người tự nguyện hạ mình xuống, chấp nhận buông bỏ ý riêng để vâng theo ý muốn của Thiên Chúa.

Cha mời gọi các chị em Học viện tìm ra những ý tưởng chủ chốt, đặc tính tâm linh và chuyển động nội tâm do Chúa đánh động để xác chuẩn ơn gọi đời mình. Bên cạnh đó, qua phân đoạn Mt 9,32-36, Cha nhắc nhở rằng Đức Ki-tô đã lắng nghe được tiếng lòng người câm và thấu cảm sự lầm than vất vưởng của dân chúng. Bài học cho người nữ tuì Đa Minh là: muốn sống sứ mạng, phải tìm cho ra những "vết thương", những lầm than vất vưởng ngay trong chính bản thân, gia đình, cộng đoàn và Hội dòng, để tiến bước trên lược đồ chuyển dịch từ: xin ơn cứu độ nơi Đức Kitô” đến “sống như Đức Ki-tô là Đấng Cứu Độ”

Ngày thứ hai: Tiến trình chữa lành và "Ngôn ngữ vô ngôn" của cầu nguyện

Suy niệm trên bản văn Ga 3,7-15, cha Vincente nhấn mạnh rằng hành trình chữa lành thực sự khởi đi từ giây phút con người dám nhìn nhận vấn đề của mình.

Như dân Israel ngày xưa nhìn lên con rắn đồng để được cứu chữa, người tu sĩ hôm nay cũng được mời gọi nhìn lên Thập giá Đức Kitô. Trong ánh sáng ấy, những yếu đuối, giới hạn và cả những góc khuất sâu kín nhất của tâm hồn được soi chiếu để rồi từ đó mở ra con đường hoán cải.

Buổi chiều, câu chuyện người phụ nữ Canaan (Mt 15,21-28) đưa chị em đến với một chiều kích khác của đời cầu nguyện. Người mẹ ấy không cầu xin cho riêng mình nhưng mang nỗi đau của con gái đến trước mặt Chúa.

Suy tư từ giảng đài: Chúng ta có bao giờ cưu mang nỗi đau của nhà dòng, của tha nhân như của chính mình chưa? Sự im lặng của Đức Giê-su trước lời bà xin chính là "ngôn ngữ vô ngôn". Cầu nguyện không phải là kể lể dông dài, nói lời hoa mỹ, mà là cưu mang một trăn trở, một ước mơ rồi đặt nó vào lòng thương xót của Chúa. Cha giảng phòng thách đố mỗi chị em hãy viết tiếp câu chuyện Tin Mừng ấy bằng chính cuộc đời mình.

Ngày thứ ba: Năng động của sự tha thứ và chiều kích cao thượng của luật buộc

Với phương pháp "Đọc Tin Mừng trong cuộc sống" qua bản văn Mt 18,21-35, các chị em được đối diện với vấn nạn tha thứ trước những tổn thương vô tình hay hữu ý từ lời nói, ánh mắt, cử chỉ của tha nhân. Cha giảng phòng nhấn mạnh: Nếu một người có thể tha thứ "bảy mươi lần bảy", họ không còn ngồi đó để đếm số lần mình chịu đựng nữa, mà họ đã thực sự sống bằng năng động của sự tha thứ.

Khi phân tích về việc kiện toàn lề luật (Mt 5,27-30), Cha giúp Học viện nhận ra Thiên Chúa luôn mở ra một cánh cửa khác tốt đẹp hơn đường lối con người. Ở đó, Đức Khiết tịnh mời gọi chúng ta làm chủ những năng lực thể lý và cảm xúc, điều hòa chúng dưới ánh sáng của giao ước ơn gọi và tình yêu Thiên Chúa.

Ngày thứ bốn: Hoàn thiện bản ngã và điểm "vịn" của đức Khiết tịnh

Đề tài "Hoàn thiện bản thân trong bản ngã" (Mt 5,20-26) chạm đến những góc khuất thời sự nhất của đời dâng hiến. Cha thẳng thắn chỉ ra: Nếu người tu sĩ đưa được dục tính đến sự kiện toàn, họ sẽ tiến rất xa trên đường nhân đức nhờ sự tự tin và tự trọng. Ngược lại, nếu trượt dài, họ sẽ rơi vào những hậu quả tai hại bộc lộ dưới nhiều dạng thức thời đại: Thế giới phẳng của mạng công nghệ: Nơi ẩn náu của những tâm hồn trống trải, yêu ảo, ngoại tình chay: Những mối quan hệ tình cảm không gọi tên nhưng gặm nhấm tâm hồn, trầm cảm ẩn và cô đơn khủng khiếp: Sự thiếu thân thiết với chính bản thân và mất kiểm soát xung năng tính dục.

Phương án giải quyết căn cốt chính là tìm lại mối tương quan thiết thân với Chúa, chọn Ngài làm điểm "vịn" duy nhất và vững chắc cho lời khấn ước, để có thể yêu thương anh chị em bằng một tình yêu tự do, không chiếm hữu như điều răn mới Chúa truyền (Ga 13,31-35).

Ngày thứ năm: Hành trình vâng phục liên lỉ và sự ngỡ ngàng của Ơn gọi

Qua câu chuyện của Thánh Giu-se (Mt 1,18-25), lời khấn Vâng phục hiện lên như một hành trình liên lỉ, âm thầm và không phản kháng để làm cầu nối cho Con Thiên Chúa nhập thế. Đời sống thừa sai của chị em Học viện cũng vậy: vâng phục thánh ý Thiên Chúa qua các sứ mạng của Hội dòng giao phó chính là để Chúa được nhập thế nơi anh chị em mình.

Khép lại ngày thứ năm là một nốt lặng đầy xúc động từ câu chuyện ơn gọi của Mát-thêu (Mt 19,9-13). Khi Chúa gọi Mát-thêu, Ngài đã theo ông về nhà và dùng bữa với ông.

Bấy lâu nay, Ta cứ ngỡ mình là người quảng đại bỏ mọi sự để theo Chúa. Hóa ra, chính Chúa mới là Đấng âm thầm dõi bước, "theo" ta trong từng biến cố cuộc đời. Ngài đón nhận ta với tất cả những gì ta có - cả ưu điểm lẫn khuyết điểm. Vậy mà, đã có lúc tôi chưa thể bao dung để đón nhận chính bản thân mình.

Ngày thứ sáu: "Ngón tay chỉ trăng" và câu hỏi bỏ ngõ về căn tính Người theo Chúa

Chủ đề "Sứ mạng Loan báo Tin Mừng" (Ga 1,35-42) được phác họa qua hình ảnh Thánh Gioan Tẩy Giả. Ông chỉ cần chỉ ngón tay và nói: "Đây Chiên Thiên Chúa", các môn đệ liền đi theo Đức Giê-su. Sở dĩ lời nói của ông có trọng lượng là vì ông đã sống tâm tình chờ đợi từ lâu, ông ý thức mình chỉ là "ngón tay chỉ trăng": "Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi". Muốn loan báo Tin Mừng, trước hết phải sống như một môn đệ đích thực.

Đề tài cuối cùng kết thúc bằng một câu hỏi bỏ ngõ đầy trăn trở sau khi phân tích giá trị của sự Phục vụ. Phục vụ đòi hỏi hiệu quả, thành tích, tài năng, chuyên môn và phương tiện, những đòi hỏi rất thực tế. Nhưng phục vụ đích thực cũng là đối diện với mệt mỏi, ngăn trở và thách đố.

Lời cảnh tỉnh từ Cha giảng phòng: “Người theo Chúa mà lấy phục vụ làm điểm tới thì đáng thương lắm, vì sai mục đích mà lại mệt mỏi.” Chúa dạy: “Ai phục vụ Thầy, hãy theo Thầy...” (Ga 12,24-26). Vậy đâu là căn tính của người theo Chúa? Câu trả lời không nằm trên trang giấy, mà nằm ở lời đáp trả bằng chính cuộc đời của mỗi khấn sinh Học viện Đa Minh Rosa Lima.


Ter. Hoài Chi ghi nhận