“Quê hương là chùm khế ngọt…Quê hương mỗi người chỉ một, như là chỉ một mẹ thôi, quê hương nếu ai không nhớ sẽ không lớn nổi thành người…” Tiếng hát ngọt ngào của ca sĩ cất lên khiến lòng tôi man mác nhớ về quê nhà xa tít tắp, nhiều người đã từng cảm nhận rằng quê hương đã nằm sẵn trong trái tim, dù có đi xa đến đâu, một ngày nào đó - cảm thức về quê hương sẽ trỗi dậy để mà da diết vọng về. Quê hương là một cái gì rất thiêng liêng… còn tôi hôm nay cũng mang cảm nhận như thế. Tình quê hương gắn liền với tình mẫu tử, bởi ở đó có mẹ, có cha, có anh chị em và bạn bè tôi, bởi ở đó tôi được cưu mang và nuôi dưỡng thành người. Không thể quên dù quê tôi rất nghèo và còn lạc hậu. Tuy nhiên quê hương luôn là niềm tự hào của tôi, lúc nào có dịp mời bạn cùng đến với quê tôi.

Quê tôi nằm thật sâu, thật xa trong dãy núi tỉnh Yên Bái, phía Bắc Việt Nam. Để đến với quê tôi, bạn không chỉ đi trên những chiếc xe đò hay Honda ôm mà bạn phải cuốc bộ ít nhất 30km, đường dốc, bên vách núi, bên vực thẳm chung quanh chập chùng, núi rừng ôm vào nhau. Nếu được đi vào buổi sáng (trước 9 giờ) bạn sẽ thấy phong cảnh hùng vĩ hơn và rất kỳ lạ dường như bạn đang đi trên mây bồng bềnh, thú vị. Thế nhưng có những lúc bạn gặp những ổ gà, ổ trâu, những khúc đường lởm chởm đá; vào mùa xuân đường lầy, đất lở, cây đổ, chính vì thế cần phải có một đôi chân dẻo dai,  một ý chí không ngại khó, một tình yêu có chiều sâu, và một ít chất “liều” bạn mới dám dấn thân đến với quê tôi.

Còn con người quê tôi thì sao ? Họ là những người dân quê chất phác - trung tín, quí trọng tình nghĩa. Cuộc sống của họ rất vui, suốt năm suốt tháng “bán lưng cho trời, bán mặt cho đất” mà vẫn chưa đủ ăn. Bữa ăn của họ chủ yếu là cơm trắng, rau luộc, vài hạt muối. Hôm nào khá hơn thì có vài khúc măng ớt (măng ớt là món đặc sản của dân tộc H’mông chúng tôi, nó cay xé lưỡi mà cũng mặn đến độ chỉ cần một khúc bằng đốt ngón tay, bạn có thể ăn cho cả bữa). Bởi thế nói chi đến việc học hành. Số người không biết chữ là 90%. Ngoài ra, họ cũng mù luôn cả thông tin. Có thể nói họ bị cắt đứt với thế giới đang phát triển bên ngoài. Một số chưa bao giờ bước ra khỏi bản làng để thấy một ngôi nhà xây, một chiếc xe đò là thế nào. Ngược lại cái bề ngoài của con người họ, là một tâm hồn thật đáng quí, đáng yêu. Họ sống trung thực hiền lành, chẳng hại ai nhưng đôi khi bị người khác hại. Đã có lần tôi chứng kiến một anh thanh niên người Kinh lấy chai nước ngọt Coca giá 3000đ, nói là thuốc đau nhức gia truyền rất hiệu quả, rồi bán lại cho dân với giá 30000đ, thậm chí có chai đã hết hạn sử dụng.

Thế đó họ “tiền mất tật mang”, cũng chính vì không được đến trường nên đa số họ còn mang nặng tư tưởng phong kiến hay còn gọi là những tư tưởng tuyệt đối, không có sự tương đối. Đặc biệt là người phụ nư, tuy lam lũ vất vả nhưng không được coi trọng, kể cả khi thai nghén, sinh nở. Đây là một trong những nỗi thương tâm mà tôi vẫn cảm thấy nhức nhối, không biết khi nào thì người phụ nữ H’mông mới được coi trọng. Ngay bản thân những người phụ nữ ấy, họ cũng thao thức cuộc sống bình đẳng hay ít ra được yêu thương và quan tâm. Có một lần, một cô bé tên Sênh đã tâm sự với tôi : Em ốm nghén thèm một tô phở nhưng nài nỉ mãi anh chồng chẳng cho. Vài tuần sau ông ngoại lên thăm cho Sênh 50.000, Sênh cầm số tiền đó và mang một nắm cơm đi đường với mong ước nhỏ: xuống huyện mua đồ dùng cho em bé và mua một tô phở. Em đi gần tới huyện (mất khoảng 4-5 tiếng đồng hồ) thì anh chồng đuổi theo kịp, bắt em quay lại về nhà với bộ mặt lạnh lùng như tiền… em tâm sự với tôi, mà hai hàng lệ tuôn rơi.

Cuộc sống của họ là thế. Đây là những khó khăn và cả những bất công nữa. Dầu vậy, họ vẫn luôn được bình an bởi vì họ dễ tha thứ và yêu thương nhau. Còn những vị khách đến với bản làng thì sao?

Rất hiếm khi có người dưới miền xuôi lên thăm dân làng quê tôi, nhưng khi đã lên rồi thì họ không thể nào quên, bởi sự hiếu khách của những con người ở đó.

Có lẽ các bạn đang thắc mắc về đời sống đức tin của họ. Họ là những Kitô hữu từ thủa xa xưa nhưng không được học giáo lý, đọc kinh Thánh cũng hiếm có; vì họ không biết chữ và thánh lễ là chuyện trong mơ, một năm chỉ một lần -  Tuy nhiên lòng tin của họ vào Thiên Chúa thì hơn rất nhiều người. Bạn thử nghĩ xem, tất cả những sinh hoạt chính thức về đời sống tôn giáo không có, nhưng họ vẫn giữ đức tin từ thuở các cha Pháp truyền giáo. Trải qua hơn một thế kỷ, đời sống đức tin không mất, vì Chúa yêu thương nâng đỡ đàn chiên của Ngài. Trong niềm tin yêu ấy, mỗi tối họ tập trung lại đọc kinh với nhau, để tuyên xưng đức tin với tinh thần hăng hái; mặc dù có người đi bộ đường núi 2km mỗi tối.

Không có một thứ luật nào, dù là luật bản làng cũng không có để ép họ tuân giữ đời sống đức tin và đời sống luân lý. Nhưng tất cả những việc đó, họ làm vì lòng yêu mến Chúa. Chính vì thế, mà họ rất đơn giản gần gũi với Chúa và với nhau. Thế nhưng theo một phương diện nào đó, thì cuộc sống của họ bị tách ra khỏi nhịp sống của xã hội phát triển, đặc biệt là đời sống đức tin công giáo. Có thể nói họ giống như dụ ngôn “Con chiên lạc” trong Tin Mừng Matthêu 18,12-14, mà hình như chưa ai cất công đi tìm.

Theo lời mời gọi của Tin Mừng, lòng tôi luôn thao thức làm sao để quê hương tôi được đổi mới về đời sống vật chất-văn hóa và tôn giáo. Với niềm mong ước đó, tôi phải sống sao cho xứng với tình yêu và lòng thương xót Chúa dành cho tôi. Ngài cho tôi nhiều cơ hội về mọi mặt, nhất là sự nhận thức. Mơ ước thì thật nhiều nhưng với con người yếu đuối, tôi rất cần sự quan phòng của Chúa, tha nhân, đặc biệt là của các chị em trong gia đình Tập Viện và cộng đoàn. Tôi cảm nhận rõ hơn nhiều bài học của tình liên đới, mở rộng hơn là tinh thần hiệp thông mà Thầy Giêsu đã sống “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga14, 54).

Tất cả những điều đó, với niềm xác tín của tôi, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho tôi để một ngày gần nhất tôi trở về quê hương với ước mong đóng góp một chút, nhằm dẫn đưa những con chiên lạc trở về với Chúa cách đúng nghĩa hơn. Tôi vẫn luôn xác tín vào tình yêu của Chúa, bởi chính Chúa đã mời gọi tất cả mọi người vào gia đình Hội Thánh Chúa cùng một đức tin, một phép Rửa. Nghĩ đến đây mà lòng chộn rộn niềm vui.

Maria NKOOV KWV