Dẫn nhập

Hai chữ “tử tế” thật đẹp và đáng trân quý vì nó diễn tả một lối sống thiện lành và chân thành giữa người với người khi họ hiểu ra những giá trị cao quý trong cuộc đời này. Khi con người đang chạy đua rốt ráo để thỏa cơn khát trong việc tìm kiếm thành công, quyền lực, danh vọng và sự khẳng định bản thân, thì đâu đó trong những góc khuất của đời thường ta vẫn bắt gặp những tấm lòng “tử tế”. Họ ánh lên như những vì sao sáng soi chiếu cho bầu trời còn nhiều gam màu xám của sự hận thù và chia rẽ này.

Đi xa hơn vào trong lăng kính của Thánh Kinh, ta mới thấy được sự tử tế không phải là một nhân đức phụ họa cho đời sống đức tin, mà nó là hoa trái tất yếu của tình yêu đối với Thiên Chúa. Bởi lẽ, khi con người thực sự gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng nhân hậu và từ bi, chậm bất bình và giàu tình thương (x. Xh 34,6), họ sẽ được biến đổi và biết sống cách tử tế với mình, với người, với đời và với chính Đấng đã yêu thương họ. Nói cách khác, sống tử tế không khởi đi từ nỗ lực luân lý thuần túy, nhưng nó được xuất phát từ việc chiêm ngắm và đón nhận lòng thương xót đã được trao ban từ chính Thiên Chúa. Bài viết là một góc suy tư về sự tử tế dưới lăng kính Thánh Kinh với ba chiều kích hài hòa: hướng lên Thiên Chúa trong thờ phượng và tín thác; hướng ra tha nhân trong công bình, phục vụ và tha thứ; và hướng vào chính mình trong sự trân trọng, gìn giữ và sống đúng với phẩm giá được trao ban. Ba chiều kích ấy không tách rời, nhưng đan quyện vào nhau như ba nhịp thở của một đời sống đức tin trưởng thành. Từ đó mở ra lời mời gọi cho mỗi người về sự chiêm ngắm và học lại cách sống tử tế dưới sự soi dẫn của Lời Chúa như một cách thế để hoán cải, canh tân bản thân, cộng đoàn và sứ vụ theo như định hướng của Tổng hội XII.

1.      Tử tế với Chúa

Tử tế với Chúa trước hết là đặt Ngài làm trung tâm đời sống mình, tôn thờ và yêu mến một mình Ngài mà thôi. Đó không phải là một khái niệm trừu tượng hay chỉ dừng lại ở những nghi thức đạo đức bề ngoài. Nó cũng không hệ tại ở việc giữ luật một cách máy móc, tỉ mỉ như những người Pharisêu giả hình bị Đức Giêsu khiển trách (x. Lc 11,37-52). Trái lại, đó phải là một tấm lòng chân thành, biết thờ phượng và vâng phục với con tim yêu mến qua việc sống trung tín, khiêm nhường và tin tưởng trọn vẹn nơi một mình Thiên Chúa.

Trở về nguồn mạch Thánh Kinh, ta bắt gặp ở đó những hình ảnh thật đẹp của một đời sống đặt Thiên Chúa ở vị trí ưu tiên tối thượng. Hình ảnh đó trước hết được sáng ngời nơi Tổ phụ Abraham với niềm tin và sự phó thác vào Đấng đã mời gọi ông rời bỏ quê hương để ra đi mà không biết trước tương lai sẽ ra sao (x. St 12,1-6). Đỉnh cao của lòng tín thác ấy là của lễ hiến tế Isaac, người con một ông hằng yêu quý, theo lệnh truyền của Thiên Chúa. Sự tử tế của ông đối với Chúa không phải là mù quáng, nhưng phát xuất từ một lòng tin sâu xa rằng Thiên Chúa luôn tốt lành và trung tín. Đó là lý do tại sao ông dám đặt Thiên Chúa trên cả tình phụ tử. Bởi thế, ông được gọi với danh xưng cao quý là “cha của những kẻ tin” như một ân thưởng cân xứng cho đức tin vô giá. Để rồi từ đó, dân Israel cũng luôn được nhắc nhở rằng: “Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta” (Xh 20,3). Vâng, Thiên Chúa phải ở vị trí số một, không chia sẻ với bất cứ thần tượng nào (tiền bạc, quyền lực, danh vọng hay ngay cả chính bản thân mình). Trái lại, Người phải được con người yêu mến hết lòng, hết linh hồn và hết sức lực(x. Đnl 6,5), điều mà đã được Đức Giêsu xác nhận là điều răn trọng nhất sau này (x. Mt 22,37-38).  

Khi nói về sự tử tế với Chúa như thế, sẽ là một thiếu sót đáng tiếc nếu không nhắc tới cuộc đời ông Gióp. Ông là một minh chứng sống động cho lòng yêu mến và trung tín đối với Thiên Chúa ngay cả khi bị thử thách đến tán gia bại sản mà vẫn không để mình thốt ra một lời nào xúc phạm đến Thiên Chúa (x. G 1-2). Vâng, khi mọi sự bị lấy đi, Chúa vẫn là trung tâm của ông, vẫn là Đấng ông phụng thờ với một niềm son sắt tín trung. Tương tự, hình ảnh ba thanh niên trong sách Đanien đã từ chối thờ lạy tượng vàng dù bị đe dọa thiêu sống cũng là bức tranh rạng ngời cho lòng trung thành với Thiên Chúa hơn cả mạng sống. Ở đó, sự tử tế đạt tới chiều sâu của sự tín thác tuyệt đối (x. Đn 3,8-23).

Kế đến, tử tế với Chúa cũng là ưu tiên Ngài trước mọi bận rộn. Hình ảnh Maria ngồi dưới chân Chúa như là một sự lựa chọn tốt nhất, trong khi Marta tất bật lo việc phục vụ đã bị Chúa quở trách đã cho thấy điều đó (x. Lc 10,38-42). Có lẽ, giữa những bận rộn của đời sống và những áp lực của sứ vụ, con người nhiều lúc cũng dễ quên rằng điều Thiên Chúa tìm kiếm không phải là những thành tích rực rỡ, nhưng là một trái tim biết yêu. Như vậy, tử tế với Chúa trước hết không phải là làm nhiều việc, nhưng là biết dành cho Ngài chỗ ưu tiên nhất trong tâm hồn mình. Trái ngược với điều đó là câu chuyện đượm buồn của chàng thanh niên giàu có, người đã giữ các điều răn nhưng không thể bỏ của cải để theo Chúa (x. Mt 19,16-22). Rõ ràng anh ta “tốt” nhưng chưa đặt Chúa làm trung tâm. Tiền bạc và của cải vẫn là ưu tiên đối với anh thay vì Thiên Chúa, Đấng cung cấp cho anh tất cả những thứ đó. Câu chuyện ấy như một lời thức tỉnh khi ở đó, luật lệ có thể được giữ rất nghiêm ngặt nhưng lòng vẫn còn mang nhiều thần tượng.

Tử tế với Chúa còn là sống trong tâm tình tạ ơn liên lỉ. Đó là một bài ca đẹp được cất lên suốt dòng lịch sử cứu độ. Bài ca tạ ơn với âm hưởng hào hùng của dân Israel sau khi được Thiên Chúa cứu thoát khỏi dân Ai Cập: “Tôi xin hát mừng Đức Chúa, Đấng cao cả uy hùng” (Xh 15,1).Hay hình ảnh đẹpcủathánh vương Đavít đã luôn ý thức rằng Thiên Chúa là nguồn cội của mọi sự: “Mọi sự đều do Ngài mà đến, và những gì chúng con dâng lên Ngài cũng là đã nhận từ tay Ngài” (1Sb 29,14). Ở đây cũng ánh lên vẻ đẹp trong lời ca tạ ơn của bà Anna sau khi sinh được Samuel như là quà tặng từ Thiên Chúa (x.1Sm 2,1-10). Tâm tình tạ ơn được tiếp tục ngân vang trong sách Thánh Vịnh như một bản trường ca tạ ơn của dân Chúa qua muôn thế hệ. Trước hết là một lời nhắc nhở êm dịu cho tâm hồn: “Hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Đức Chúa, chớ khá quên mọi ân huệ của Người” (Tv 103,2). Rồi câu điệp khúc: “Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” được lặp lại tới 26 lần trong Thánh Vịnh 136 như sự xác tín mãnh liệt vào một Thiên Chúa xót thương luôn mãi. Lời của vịnh gia cứ thế tấu lên cung điệu tạ ơn của cõi lòng trước một Đấng luôn chạnh thương: “Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời” (Tv 23,6) vì “Chúa luôn luôn từ ái một niềm, ơn cứu chuộc nơi Người chan chứa” (Tv 130,7) …

Sang đến Tân Ước, ta cũng được gặp thấy câu chuyện đẹp về lòng biết ơn của mười người phong hủi (x. Lc 17,15-16). Hay như lời kinh tạ ơn tuyệt đẹp của Đức Maria trong bài ca Magnificat: “Linh hồn tôi ​ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi ​hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới” (Lc 1,46-48). Thánh Giacôbê cũng nhắc nhở rằng: “Mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do tự trời, bởi Cha sáng láng ban xuống” (Gc 1,17). Như vậy, tạ ơn không phải là những cảm xúc thoáng qua, nhưng đó là một lối sống khiêm nhường, nhận ra mọi sự mình có đều là hồng ân.

Đi xa hơn nữa là biết dâng lời tạ ơn Chúa trong những lúc khốn khó, gian nan như ông Gióp thì quả là đáng nể phục: “Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi; xin chúc tụng danh Đức Chúa” (G 1,21). Hay trong cảnh tù đày, thánh Phaolô và Xila vẫn hát ca tụng và tạ ơn Chúa (x. Cv 16,25) vì các ngài luôn xác tín rằng: “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Ngài” (Rm 8,28).

Tắt một lời, tử tế với Chúa là sống tâm tình tạ ơn như lời thánh Phaolo dạy: “Anh em hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh vì đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Kitô Giêsu” (1Tx 5,18). Vì sự thật là tất cả chúng ta có đều do chúng ta nhận lãnh từơn Thiên Chúa (x. 1Cr 15,10). Vì vậy, hãy để cho mình được chan chứa niềm tri ân cảm tạ(x. Cl 2,6-7).

Đặc biệt, tử tế với Chúa là cậy trông hoàn toàn nơi lòng từ ái của Ngài. Hẳn ta còn nhớ lời cầu nguyện thống thiết của hoàng hậu Et-te và bà Giu-đi-tha với niềm tín thác mãnh liệt nơi Thiên Chúa khi đứng trước vận mạng của đất nước mình (x. Et 4,17; Gđt 10,11). Hay như bà góa thành Sarepta vững lòng cậy tin trong cảnh đói nghèo và Thiên Chúa đã không để hũ bột vơi, bình dầu cạn (x. 1V 17,8-16). Vịnh gia cũng cho ta cảm nếm tâm tình tin tưởng phó thác vào lòng nhân từ của Chúa: “Dù qua lũng âm u, con sợ gì nguy khốn vì có Chúa ở cùng” (Tv 23,4); “Chúa gần gũi những tấm lòng tan vỡ” (Tv 34,19); “Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi, hồn tôi được nghỉ ngơi yên hàn” (Tv 62,2) … Vì thế, cậy trông là trao cả điều mình không hiểu cho Thiên Chúa và tín thác vào lòng lân tuất của Ngài. Bởi lẽ, “lượng ​từ bi Đức Chúa đâu đã cạn, lòng thương xót của Người mãi không vơi. Sáng nào Người cũng ban ân huệ mới” (Ac 3,22-23).

Trong Tân Ước, Đức Giêsu đã cho chúng ta biết thế nào là đỉnh cao của sự tín thác vào Thiên Chúa ngay cả trong khổ đau. Đó là hình ảnh Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu với lời cầu nguyện thống thiết: “Xin đừng theo ý con, mà theo ý Cha” (Lc 22,42). Và đỉnh cao của sự cậy trông được hoàn trọn nơi thập giá với lời nguyện xin: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).

Sau cùng, tử tế với Chúa còn là thái độ khiêm nhường sám hối. Đó là hình ảnh của thánh vương Đavít sau khi phạm tội đã thống thiết kêu xin ơn tha thứ của Thiên Chúa: “Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà ​xóa tội con đã phạm. Xin ​rửa con sạch hết lỗi lầm; tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy” (Tv 51,3-4). Hay như người con hoang đàng đã can đảm đứng dậy trở về và được cha ôm lấy trong yêu thương tha thứ (x. Lc 15, 20). Vâng, Thiên Chúa chúng ta không tìm kiếm những con người hoàn hảo, nhưng tìm kiếm những trái tim thống hối, ăn năn, những trái tim khiêm nhường và chân thành bước đi trước mặt Người (x. Mk 6,8). Lời khuyên rất hay từ sách Châm Ngôn “Ai che giấu tội mình sẽ không thành công; còn ai thú nhận và từ bỏ sẽ được xót thương” (Cn 28,13). Bởi Thiên Chúa chúng ta không vui gì khi kẻ gian ác phải chết nhưng Ngài muốn nó ăn năn sám hối để được sống (Ed 18,23).

Hẳn ta cũng ấn tượng bởi câu chuyện thánh Phêrô đã hối hận và khóc lóc sau khi chối Thầy ba lần (x. Lc 22,61-62). Sự ăn năn chân thành biến ngài từ kẻ yếu đuối thành vị tông đồ trưởng. Hay như người thu thuế đã khiêm nhường nên được công chính hóa khi trở về (x. Lc 18,13-14). Rồi đến một Maria Mađalêna yêu nhiều vì được tha nhiều (x. Lc 7,37-48), một tên trộm lành đã trở về ở phút cuối (x. Lc 23,40-43). Thật vậy, Kinh Thánh cho thấy không ai vô tội (x. Rm 3,23) nhưng cũng không ai quá tội lỗi để không được tha. Điều đẹp nhất ở đây là Thiên Chúa không chỉ tha thứ, Ngài còn phục hồi, trao sứ mạng mới và biến quá khứ lỗi lầm thành kinh nghiệm ân sủng.

2.      Tử tế với người

Nếu tử tế với Chúa là gốc rễ, thì tử tế với người chính là hoa trái của tình yêu dành cho Thiên Chúa. Một đời sống yêu mến Thiên Chúa đích thực chắc chắn sẽ tỏa hương nơi cách ta đối xử với anh chị em mình. Thánh Phaolô gọi đó là hoa trái của Chúa Thánh Thần: “Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa và tiết độ” (Gl 5,22-23).

Trước hết, tử tế với người là tôn trọng và sống công bình với hết mọi người, không phân biệt địa vị hay hoàn cảnh. Nền tảng của thái độ này nằm ngay từ thuở ban đầu: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Ngài” (St 1,27). Do đó, phẩm giá con người không đến từ chức vụ, học vấn hay của cải, nhưng từ chính việc họ mang hình ảnh Thiên Chúa. Vì thế, mọi sự khinh miệt hay áp bức người khác đều là xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa. Những trang Kinh Thánh làm sáng lên một Thiên Chúa không thiên vị ai nhưng luôn bênh vực cô nhi quả phụ và yêu thương ngoại kiều (x. Đnl 10,17-19). Những luật cấm được đưa ra cho dân thực hiện như: không được áp bức ngoại kiều, ngược đãi cô nhi quả phụ, cho vay nặng lãi… (x. Xh 22,20-26) càng khẳng định điều đó. Ý tưởng này cũng được tìm thấy trong sách Thánh Vịnh khi nói đến một Thiên Chúa minh oan cho kẻ bị áp bức lầm than, cho kẻ đói bánh ăn và giải phóng những ai tù tội (x. Tv 146,7-9). Như thế, công bình xã hội phản ánh chính trái tim Thiên Chúa. Ai áp bức người nghèo là xúc phạm Ngài (x. Cn 14,31).

Về điều này, các ngôn sứ đã lên án một cách mạnh mẽ. Ngôn sứ A-mốt đã tố cáo những kẻ bán người công chính để lấy tiền và biến công lý thành món hàng và chà đạp người nghèo (x. Am 2,6-7). Còn Isaia thì cảnh báo: “Khốn thay những kẻ ban hành luật lệ bất công” (Is 10,1-2). Ở một chỗ khác, ngài nói: “Hãy học làm điều thiện, tìm kiếm công lý, bênh vực cô nhi quả phụ” (Is 1,16–17). Hay Giêrêmia thì lên tiếng rằng: “Hãy thi hành công lý và sự công minh, giải thoát người bị áp bức khỏi tay kẻ bóc lột” (Gr 22,3). Thêm vào đó, ngôn sứ Êdêkien cho ta biết tội bóc lột là tội trọng (x. Ed 22,29) … Như vậy, sống công bình không chỉ là một lựa chọn đạo đức, mà còn là trung thành với giao ước cùng Thiên Chúa, Đấng đã phán: “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19,18).

Đến Tân Ước, Đức Giêsu đã làm cho chân lý ấy trở nên sống động khi Ngài bước đến với những người bị loại trừ: nói chuyện với người phụ nữ Samari (x. Ga 4,1-42); vào nhà ông trùm thu thuế tội lỗi Giakêu (x. Lc 19,1-10) hay gọi tên thu thuế Lêvi đi theo Ngài (x. Mc 2,14). Chính sự tôn trọng và lòng nhân hậu của Ngài đã làm biến đổi họ. Ngài khẳng định sứ mạng của Ngài hướng đặc biệt về những người bị gạt ra bên lề xã hội như lời sách ngôn sứ Isaia: “Ngài sai tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo…” (Lc 4,18). Thánh Phaolô thì khẳng định chân lý này như sau: “Không còn chuyện phân biệt Do Thái hay Hy Lạp… vì tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô” (Gl 3,28). Quả thế, “Thiên Chúa không thiên vị ai” (Cv 10,34-35) và việc thiên vị trong cộng đoàn thì thật đáng lên án (x. Gc 2,1-9).

Tử tế với người còn là quảng đại phục vụ cách vô vị lợi.Hình ảnh mộtĐức Giêsu đã quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ (x. Ga 13,1-15), và khẳng định: “Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ” (Mc 10, 45) phải là hình mẫu cho tất cả chúng ta. Hay lòng quảng đại của bà góa nghèo dâng hai đồng tiền nhỏ đã đánh động trái tim Đức Giêsu và đã được Ngài khen ngợi vì đã cho đi tất cả từ chính sự thiếu thốn của mình (x. Mc 12,41-44). Tâm tình này cũng được thể hiện nơi sự đồng tâm nhất trí của cộng đoàn tiên khởi khi tất cả “để mọi sự làm của chung” hầu chia sẻ cho nhu cầu của mỗi người và không để ai phải thiếu thốn (Cv 4, 32-35). Một cách đặc biệt, ý tưởng này được sáng bừng lên trong dụ ngôn Người Samari nhân hậu, người bị coi là “ngoại đạo” lại trở thành mẫu gương sống tử tế với anh chị em mình. Trong khi thầy tư tế và thầy Lêvi, những người có địa vị tôn giáo đã đi qua thì người Samari này đã dừng lại, băng bó và chăm sóc nạn nhân (x.Lc 10,25-37). Ông không chờ đáp đền. Ông chỉ đơn giản là động lòng thương và cứu giúp. Câu chuyện khắc họa một thông điệp thật rõ là người thân cận không bị giới hạn bởi biên giới, giai cấp hay định kiến nhưng đó là bất cứ ai đang cần đến lòng thương xót.

Trở lại trong Cựu Ước với hình ảnh đẹp của ông Tôbia đã âm thầm giúp đỡ người đồng hương bị bách hại, chôn cất người chết dù gặp nguy hiểm hay bị chê cười (x. Tb 2,1-14). Ông làm việc thiện không vì danh tiếng nhưng chỉ vì kính sợ Thiên Chúa và yêu thương anh chị em mình. Lời Đức Giêsu dạy vẫn vang vọng đó đây: “Nếu anh em cho vay mà hy vọng được đền trả, thì còn gì là ơn nghĩa? (Lc 6, 34). Thánh Phaolo cũng dạy: “Bao lâu còn thời giờ anh em hãy làm việc thiện cho mọi người” (Gl 6,10). Quả thế, Kinh Thánh khẳng định: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20, 35). Như vậy, sống sự tử tế ở đây là phục vụ không tìm tiếng khen cũng không chờ đáp đền. Và một khi càng cho đi vô vị lợi, con người càng trở nên giống Thiên Chúa, Đấng luôn trao ban trước.

Bên cạnh công bình và phục vụ, tử tế còn là bao dung và tha thứ. Trở lại lịch sử dân Israel xưa để thấy đã bao lần dân phản bội Thiên Chúa. Thế nhưng, Thiên Chúa vẫn tha thứ và tiếp tục yêu thương dẫn dắt dân (x. Xh, 32-34). Đức Giêsu, Đấng là hiện thân của lòng Chúa xót thương đã đến và dạy phải tha “bảy mươi lần bảy” (x. Mt 18,21-22), nghĩa là tha không giới hạn. Hãy thực thi lòng thương xót như Cha trên trời là Đấng thương xót, hãy tha thứ thì sẽ được thứ tha (x. Lc 6,36-37) - những lời ấy không chỉ là giáo huấn, mà đã được chính Đức Giêsu minh chứng trọn vẹn qua cuộc đời của Ngài. Đi xa hơn nữa, tử tế đích thực không dừng ở việc không làm hại ai, mà còn dám yêu thương cả khi bị tổn thương. Trên thập giá, chính Đức Giêsu đã cầu xin ơn tha thứ cho kẻ giết mình (x. Lc 23,34). Và có lẽ ta sẽ không tìm được nơi nào một hình ảnh tuyệt đẹp hơn của sự bao dung tha thứ vô điều kiện như trong dụ ngôn “Người Cha Nhân Hậu” (x. Lc 15,11-32). Dụ ngôn là sự phản ánh chính trái tim Thiên Chúa, Đấng là người Cha xót thương hải hà đến tận cùng.

Để rồi sau này, thánh Stêphanô cũng noi gương Thầy mình mà tha thứ cho những kẻ ném đá mình (x. Cv 7,60). Thánh Phaolo cũng khuyên chúng ta: “Hãy ăn ở với nhau cách nhân từ, đầy lòng thương xót, tha thứ nhau như Thiên Chúa đã tha thứ anh em trong Đức Giêsu Kitô” (Ep 4,32). Cùng một tâm tình: “Anh em hãy có lòng thương cảm, ​nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và ​tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,12-13). Vì sự thật là tha thứ không làm ta yếu đuối, trái lại, nó phá vỡ vòng xoáy bạo lực và làm ta nên giống Thiên Chúa hơn, Đấng luôn khởi xướng sự tha thứ trước.

3.         Tử tế với mình

Chiều kích thứ ba của sự tử tế là đối với chính mình. Trong đời sống đức tin cũng như thường ngày, ta thường nói nhiều về việc yêu thương người khác, hy sinh, phục vụ và sống vì tha nhân. Tuy nhiên, một câu hỏi quan trọng lại ít được nhắc đến: liệu chúng ta có đang tử tế với chính mình? Thánh Kinh cho thấy rằng tử tế với bản thân không phải là ích kỷ hay nuông chiều xác thịt, nhưng là sống đúng với giá trị Thiên Chúa đã tặng ban, biết chăm sóc đời sống mình một cách đúng đắn trong ân sủng Chúa với sự khiêm nhường và lòng biết ơn.

Trước hết, tử tế với bản thân bắt đầu từ việc nhận biết giá trị của mình trong mắt Thiên Chúa. Sách Sáng Thế đã cho ta biết con người chúng ta không phải là một sản phẩm ngẫu nhiên, nhưng là công trình kỳ diệu của Đấng Tạo Hóa (x. St 1,26-27). Bởi thế mà vịnh gia đã phải cất lời: “Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu” (Tv 139,14). Vì vậy, khi ta tự khinh ghét, so sánh và dằn vặt chính mình là ta đang vô tình phủ nhận sự khôn ngoan của Đấng đã tạo dựng nên mình. Tử tế với bản thân do đó là chấp nhận con người mình như là món quà cao quý đến từ trời cao với cả những ưu điểm lẫn giới hạn của mình trong sự biết ơn và tin cậy.

Không chỉ vậy, Đức Giêsu còn dạy: “Ngươi hãy yêu người lân cận như chính mình” (Mt 22,39). Vâng, chỉ một khi con người biết chăm sóc quan tâm và yêu thương chính mình thì mới biết chăm sóc và yêu thương người khác được. Ngược lại, nếu một người luôn khắt khe, cay nghiệt với bản thân, thì tình yêu của họ dành cho người khác cũng dễ trở nên méo mó. Hay một người sống trong mặc cảm và tự kết án chính mình sẽ khó có thể trao ban và biểu lộ sự dịu dàng, bao dung đối với anh chị em mình. Do đó, tử tế với bản thân chính là nền tảng để yêu thương tha nhân cách lành mạnh và trọn vẹn.

Bên cạnh việc nhìn nhận giá trị bản thân, tử tế còn là biết chăm sóc chính mình. Thánh Phaolo viết cho tín hữu Côrintô rằng: “Anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như thế, anh em đâu còn thuộc về mình nữa, vì Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em. Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em” (1Cr 6, 19-20).Vậy,nếu thân thể là nơi Chúa ngự, thì việc gìn giữ sức khỏe, nghỉ ngơi điều độ và tránh những điều gây tổn hại không chỉ là trách nhiệm cá nhân, mà còn là hành động tôn kính Thiên Chúa, Đấng đang ngự trong mình. Tử tế với bản thân vì thế bao gồm việc thiết lập ranh giới, không để mình rơi vào kiệt sức cả về thể chất lẫn tinh thần. Đó cũng chính là thực thi đức tiết độ của Kitô giáo.

Chính Đức Giêsu cũng dạy các môn đệ hãy tìm nơi vắng vẻ, nghỉ ngơi sau một ngày làm việc vất vả (x. Mc 6,31). Trong bối cảnh công việc bận rộn và nhu cầu dân chúng đông đảo, lời mời gọi nghỉ ngơi ấy cho thấy sự quân bình cần thiết trong đời sống của người môn đệ Chúa. Phục vụ mà không nghỉ ngơi hay hy sinh cho người khác mà không biết chăm sóc thể xác và linh hồn mình sẽ dẫn đến mệt mỏi, kiệt sức và không lâu bền. Do đó, tử tế với bản thân là biết dừng lại đúng lúc, biết dung hòa để xây dựng một cuộc sống an mạnh cả thể xác lẫn tinh thần và tâm linh hầu có thể thi hành sứ vụ cách tốt nhất.

Một khía cạnh quan trọng khác của việc tử tế với chính mình là học cách tiếp nhận sự tha thứ.Không ít lần và không ít người dễ tha thứ cho người khác hơn là tha thứ cho chính mình. Thật là một sự mâu thuẫn khi ta tuyên xưng niềm tin vào một Thiên Chúa nhân từ thứ tha khi con người ăn năn thống hối mà ta vẫn tiếp tục sống trong mặc cảm, liên tục nhắc lại lỗi lầm quá khứ và tự kết án mình. Đó là tội không tin tưởng vào lòng thương xót tha thứ của Thiên Chúa.Thật vậy, thánh Gioan khẳng định rằng: “Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính sẽ tha tội cho chúng ta, và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính (1Ga 1,9). Do đó, tử tế với chính mình là tin vào ơn tha thứ của Chúa và dám can đảm buông bỏ gánh nặng tội lỗi để bước đi trong đời sống mới với ân sủng Chúa.

Tóm lại, tử tế với chính bản thân mình trong ánh sáng Thánh Kinh không phải là đặt mình làm trung tâm, nhưng là sống trong nhận thức rằng mình thuộc về Thiên Chúa, là con cái Thiên Chúa và được Người yêu thương. Đó là thái độ sống biết ơn vì hồng ân sự sống, biết chăm sóc bản thân với mọi chiều kích trong sự hài hòa, lành mạnh để trở nên một đền thờ xứng đáng của Chúa Thánh Linh. Khi ta học cách tử tế với chính mình theo cách Chúa dạy, ta không trở nên yếu đuối hay ích kỷ, nhưng trở nên vững vàng và bình an hơn. Và từ sự bình an ấy, ta có thể lan tỏa tình yêu, sự cảm thông và lòng nhân từ đến cho người khác. Bởi lẽ, một tấm lòng được chữa lành mới có khả năng chữa lành cho tha nhân.

Tạm kết

Như vậy, sống tử tế dưới lăng kính Thánh Kinh là một hành trình ba chiều: hướng lên với Chúa, hướng ra với tha nhân, và hướng vào chính mình. Ba chiều kích ấy không thể tách rời nhau. Khi ta đặt Chúa làm trung tâm, ta học được cách yêu người vô vị lợi. Khi ta biết tôn trọng và tha thứ cho người khác, ta cũng học được cách bao dung với chính mình. Và khi ta sống trong ân sủng Chúa, ta sẽ có đủ bình an để yêu mến Chúa và phục vụ anh chị em.

Chiêm ngắm sự tử tế dưới ánh sáng Thánh Kinh trong khung cảnh của lời mời gọi từ năm thứ 3 của Tổng Hội XII: “Lắng nghe Lời Chúa để xây dựng cộng đoàn”, thiết nghĩ mỗi chị em chúng ta cũng nên dành những giây phút tĩnh lặng để cật vấn chính mình về sự tử tế trong cả ba chiều kích: Tôi đã thực sự đặt Chúa làm trung tâm đời sống cộng đoàn cũng như đời sống cá nhân tôi chưa, hay tôi vẫn đang để cho công việc, kế hoạch riêng và cái tôi ích kỷ âm thầm chiếm chỗ? Tôi có thật sự tử tế với chị em mình trong từng ánh nhìn, lời nói, cử chỉ; trong cách lắng nghe và cảm thông, hay vẫn còn đó những xét đoán kín đáo, những lời nói cay nghiệt gây tổn thương và những khoảng cách vô hình trong cộng đoàn? Và tôi có đủ hiền lành với chính mình để đón nhận giới hạn, cho mình được nghỉ ngơi trong ân sủng, thay vì khắt khe và so sánh?

Sự tử tế ấy không chỉ là nỗ lực cá nhân, nhưng đó là hoa trái của Lời Chúa được đón nhận và sống mỗi ngày cách kiên trì; để rồi, nhờ việc đặt Đức Kitô làm trung tâm và để Chúa Thánh Thần hướng dẫn, những hoa trái bác ái, hiền hòa và nhân từ sẽ được triển nở trong chính cộng đoàn mình. Lúc đó, cộng đoàn sẽ trở nên một không gian của sự hiệp nhất, yêu thương, hy vọng và bình an. Đó cũng chính là một hình ảnh nhỏ bé nhưng chân thật của Nước Trời giữa trần gian.

Canh tân cộng đoàn, vì thế, không khởi đi từ những thay đổi cơ cấu lớn lao, nhưng từ một cuộc hoán cải rất âm thầm nơi từng trái tim mỗi chị em. Đó có thể là một lời nói dịu dàng, một sự quảng đại thứ tha, một sự kiên nhẫn hơn một chút, bao dung hơn một chút hay một giây phút tin tưởng phó thác trong đêm tối đức tin. Nói cách khác, con đường canh tân sâu xa nhất chính là học lại sự tử tế dưới lăng kính Lời Chúa. Ước gì đời sống chúng ta với những sứ vụ dù âm thầm trong cộng đoàn hay giữa thế giới sẽ trở thành một lời chứng nhẹ nhàng mà rõ ràng mạnh mẽ rằng: Thiên Chúa vẫn đang hiện diện, yêu thương và luôn luôn tử tế với con người. Và nếu có ai đó hỏi Tin Mừng là gì, thì họ có thể đọc thấy câu trả lời nơi chính cách sống tử tế mỗi ngày của chúng ta.


Anna Hoàng Hiền