Khi ta tiếp cận với một dân tộc, dù rất nhỏ, nhưng dân tộc ấy có nếp sống và tiếng nói riêng, người sứ vụ làm gì khi ta muốn loan báo Tin Mừng cho những người dân ấy?

Chúa Giêsu xuống thế làm người, Ngài làm một con người thật sự. Ngài được sinh ra và lớn lên như một con người, (Lc 1,26-38;) được nuôi sống và lớn lên trong nếp sống – văn hóa – tôn giáo của người Israel (Lc 2, 21- 40). Ngài sống nghèo như những người nghèo (Lc 2,16), nghèo đến “con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ gối đầu” (Lc 9,58). Chính lối sống nghèo, cúi mình xuống tận cùng kiếp người của Chúa đã trở thành con đường, gương mẫu để các con cái Ngài bước theo trong việc sống – loan báo Tin Mừng.

Đọc lại lịch sử truyền giáo Kontum, qua sách “Dân Làng Hồ” của tác giả P.Dourisboure, các nhà Thừa Sai khi tiếp cận với người dân bản địa Tây Nguyên, việc đầu tiên là các ngài làm quen, học tiếng, học sống nếp sống của người dân giữa những người dân. Đức cha Micael Hoàng Đức Oanh từng nói: các tu sĩ, đến thi hành sứ vụ ở Kontum mà không biết đến quyển sách “Dân Làng Hồ” là như chưa đến ở Kontum vậỵ. Đức cha đã tặng cho tôi cuốn sách này, khi tôi vừa đặt chân tới Kontum.

Tôi là một người sinh sau đẻ muộn trong đời sống đức tin nên tôi không được học Kinh Thánh – giáo lý từ nhỏ ở xứ đạo, mà được đọc, được học, được dạy sống Kinh Thánh khi ở nhà dòng, từ đệ tử cho đến học viện học thần học. Nhưng tôi chỉ thật sự đụng chạm, trải nghiệm cách sống động đời sống yêu thương, loan báo Tin Mừng cứu độ của Chúa Giêsu. Tôi nghẹn ngào, khâm phục trước lối sống của các Thừa Sai, khai mở vùng truyền giáo Kontum.  Chúa đến để đem lại sự sống mới, một cuộc sống tốt đẹp hơn “Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Các Thừa Sai đã trở nên những hạt giống đầu tiên mục nát đi để đem lại hoa trái cho vùng đất Kotum, như lời Chúa Giêsu đã nói: hạt lúa phải chết đi trong lòng đất mới sinh nhiều bông hạt (Ga 12,24)”.

Có thể, rất nhiều người biết đến Tây Nguyên với phố núi Plei Ku rực rỡ ánh đèn, hàng hiệu xa xỉ; với Biển Hồ xanh thẳm nên thơ. Còn tôi, tôi biết đến Tây Nguyên bên những con người rất lạ, da sạm nắng khỏe mạnh, nói một ngôn ngữ tôi chưa từng nghe qua. Người dân lặng lẽ sống trong những buôn làng mộc mạc, giản đơn. Những em bé mắt to tròn ngơ ngác khi nhìn thấy người lạ. “Sứ vụ của con, là loan báo Tin Mừng cho những người này”, lời của Đức Cha Micael nói với tôi, khi ngài chở tôi đi dọc quốc lộ 14C, ghé vào những buôn làng không quen biết. Tôi bắt đầu học tiếng Jrai, học từ ngữ “nhà đạo” với anh chị em Jrai đã tin theo Chúa, nghe kể chuyện xưa nơi ông bà già Jrai trí thức, (biết tiếng Kinh) để học biết nếp sống và những điều cấm kị trong các buôn làng. Tôi tham dự thánh lễ và nghe giảng Lời Chúa bằng tiếng Jrai, tham gia các nhóm chia sẻ Lời Chúa bằng tiếng Jrai. Lúc bấy giờ, cuộc sống của tôi là cả bầu trời Jrai. Năm đầu tiên, tôi chỉ đi lang thang học hỏi, nghe nói, nhìn cách sống của anh chị em. Năm thứ hai, rồi năm thứ ba, tôi cũng chỉ nói bập bẹ, giao tiếp chập choạng, không nghe được khi anh chị em nói chuyện với nhau. Chấp nhận làm một đứa trẻ tập nói, bỏ thời gian để la cà, ngồi lê lết và không vội khi mình đến với anh chị em. Thời gian cứ thế trôi, tôi không biết mình đã nói và nghe được tiếng Jrai từ khi nào. Tạ ơn Chúa, cảm ơn anh chị em Jrai rất nhiều. Ước mơ của tôi là trở nên người Jrai như người Jrai, lời của thánh Phaolo bổng sống lại trong tôi “với người Do Thái, tôi trở nên người Do Thái, để chinh phục người Do Thái” (1Cr 9,20). Tôi trở nên cho mọi người để sống với sống cùng và nhất là được chia sẻ Tin Mừng cứu độ (1Cr 9,22). Đó là một trong những động lực thúc đẩy tôi học tiếng Jrai.

Chúa Giêsu đã mất 33 năm, học làm người Do Thái như một người Do Thái. Ngài học bằng chính cuộc đời mình, bằng chính trải nghiệm thực tế: Ngài được sinh ra trong nghèo khó (Lc 2,6-7), lớn lên giản dị ở làng quê Nazaret (Ga 1,46), bị hiểu lầm (Mc 3,20-21; Mc 3,22; Mt 11,19;…), chống đối – loại bỏ (Lc 4,28-30; Mc 3,6; Ga 7,1;… ), bị phản bội – bị buôn bán như một món hàng (Mt 26, 14-16; 47-50)và cuối cùng là chết trên thập giá (Mt 27,33-50; Mc 15, Lc 23; Ga 19). Một cái chết nhục không thể nhục hơn. Ngài vâng phục Chúa Cha chỉ một mục đích duy nhất là cứu độ con người.

Sứ vụ Jrai, tôi có gian nan một chút, chịu thấp kém một chút, bị chống đối, hiểu lầm một chút… tất cả chỉ một chút thôi. Nhìn lại, tôi sung sướng hơn Chúa Giêsu rất nhiều. Bởi Ngài “biết” tôi và nâng đỡ tôi từng giờ. Đó là niềm tin của tôi, không có Chúa, tôi làm được gì? Tôi cực khổ học một thứ ngôn ngữ mà bước ra khỏi làng, nói không ai hiểu?  Tin Mừng của Chúa được lan tỏa, được sống bằng chính nếp sống và ngôn ngữ của người bản địa. Đó là điều tôi mong ước.

Tôi đến với anh chị em, nơi tôi đến, bằng một con người rất đơn giản. Hành trang của tôi:

- Lời của Chúa (ngôn ngữ của anh chị em), không bao giờ thiếu.

- Ngôn ngữ, kiến thức tôi học được về nếp sống, những điều cấm kị của người làng

- Như một người anh em

Tôi không giàu có về kiến thức, vật chất. Tôi chỉ là một con người tu sĩ nhỏ bé đến với anh chị em. Tôi ăn tất cả các món ăn, uống tất cả những gì anh chị em dọn cho tôi. Tiếp xúc với hết tất cả những người đến với tôi, từ một em bé đến người già, một người say rượu đến những người tử tế. Tôi đi tham tham dự ngày bỏ mả, đi nghe già làng xét xử, đi rẫy làm cỏ, cắt lúa... Tôi tránh nói và làm những điều cấm kị trong làng (dĩ nhiên, sẽ rất nhiều rủi ro. Nhưng ta tin vào Chúa, Ngài không để ta đau khổ đến như Ngài). Khi tôi đã rất quen với người làng rồi, từ đó Tin Mừng của Chúa được lan tỏa. Thánh Thần Chúa làm thì ta chẳng còn thời giờ để nghỉ ngơi. Anh chị em Jrai, nơi tôi đến, đón nhận tôi vì tôi “gần” giống như Jrai, chỉ là gần giống thôi. Tôi cũng chỉ sống bên “rìa” cuộc sống của anh chị em.

Sứ vụ Jrai, quanh tôi chỉ có người nghèo và người ít nghèo hơn, không có ai giàu có về vật chất cả, đó là sự thật. Anh chị em, cần sự trợ giúp. Chúa Giêsu từng chạnh lòng thương khi nhìn thấy dân chúng bơ vơ, lầm than như bầy chiên không người chăn dắt (Mt 9,36). Ngài chùng lòng khi con cái mình đói khát, khổ đau vì bệnh tật (Mt 14,14; 20,34; Mc 1,40-41…). Trên đường sứ vụ, tôi cũng hơn nhiều lần và rất nhiều, nhiều lắm, sống tâm tình này của Chúa. Tạ ơn Chúa. Khi có ai đó chia sẻ về lương thực, thực phẩm, thuốc men để tôi lại sẻ chia lại cho anh chị em. Tôi cũng thấy vui cùng với anh chị em. Nhưng việc sẻ chia ấy chỉ là thêm niềm vui, thêm sự quan tâm, yêu mến. Chúa Giêsu đã từng nói rất đau đớn: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê (Ga 6,26). Chúa muốn ta tìm một thứ lương thực trường tồn đem lại sự sống đời đời là chính Chúa (Ga 6,27). Tôi không muốn lời này lại lập lại nơi anh chị em, những người tôi thương mến. Tôi thường chia sẻ với anh chị em, những người tin theo Chúa. Chúa ban cho ta có khối óc để suy nghĩ để phân biệt, có đôi chân để đi, có đôi tay để làm việc. Chính vì thế anh chị em tự làm ăn để sinh sống và đó là niềm tự hào trong Chúa. Chúa sẽ chúc phúc cho những ai siêng năng làm việc và Ngài sẽ không vui khi con cái mình lười biếng. Tôi mang đến cho anh chị em Lời của Chúa là còn mãi đến đời con, đời cháu của anh chị em.  Đó là quan điểm của tôi trên đường sứ vụ Jrai, tôi thấy rất tốt.

Một thực tế ít vui, tôi nhìn thấy trên đường sứ vụ, đó là không ít người đi sứ vụ Jrai, chú tâm vào việc tặng quà, tặng nhà tình thương, tặng nhu yếu phẩm…. Tôi không chỉ trích điều này nhưng chỉ là ước mong, đó là công việc bác ái thêm niềm vui cho người thi hành sứ vụ và người được phục vụ. Ngày nay, người người làm từ thiện, đoàn đoàn phát quà, người sứ vụ Jrai dành thời gian đến với anh chị em bằng chính lối sống và ngôn ngữ của người bản địa, may ra Tin Mừng của Chúa còn có cơ hội lan tỏa. Rất tiếc, trên đường sứ vụ, tôi gặp không ít anh chị em bỏ cả mấy trăm triệu cho công việc mua quà tặng cho người làng, nhưng để bỏ ít thời gian đi lang thang trong làng thì “bận lắm, mất giờ”. Xin trợ giúp ngàn phần quà nhanh và có liền nhưng để tìm chi phí làm một căn nhà nhỏ cho anh chị em cầu nguyện “rất khó”…Tôi rất mắc cỡ, nếu trên đường sứ vụ, anh chị em trong làng “yă pơgrong đơi, lô prak (bà giàu quá, nhiều tiền)”. Tôi sẽ rất buồn khi bị nổi tiếng vì điều này. Người sứ vụ “anh em đừng mang theo bao bị, đừng mang hai áo, đừng mang giày dép hay gậy… (Mt 10,9-10). Nhưng ngày nay, người sứ vụ lên đường quá cồng kềnh, quá nhiều hành trang bên ngoài. Đôi khi, tôi dừng chân chậm lại để nhìn xem mình đã thật sự đi đúng con đường Chúa đã đi chưa?

Tôi không hiểu sao những chị em cùng đi sứ vụ Jrai lại từ chối học tiếng Jrai, khó chịu khi người khác nói tiếng Jrai trước mặt mình? Có cái gì đó sai sai, rất là sai luôn. Chị em quan tâm đến người nghèo nhưng lại ngại “nói tiếng nói của người nghèo”, ta chỉ thích ban phát mà không muốn nhận một bịch gạo nhỏ từ người nghèo tặng cho. Ta chỉ thích nói nhưng lại ngại nghe. Ta cần tiếng cảm ơn và hình ảnh tèm hem của người nghèo? người sứ vụ Jrai mà bị chi phối bởi: Tiền, quyền và danh tiếng thì người nghèo chỉ là khí cụ để ta đạt mục đích.

Tôi viết những lời này không để chỉ trích ai, chỉ là suy nghĩ và nhìn lại bản thân. Tôi cũng là người đi sứ vụ Jrai. Tôi ước mong có người thừa kế “gia sản Jrai” Chúa ban cho Hội Dòng, cho cộng đoàn nói chung và cho tôi nói riêng. Tạ ơn Chúa đã dùng tôi nhưng tôi sẽ qua đi mà chưa có người thừa kế từ Hôi Dòng. Tôi cầu xin Chúa ghé mắt nhìn và vui nét mặt để tiếp tục công trình của Ngài nơi những chị em sẽ thừa kế “gia sản Jrai”.

Người sứ vụ Jrai muốn sống được lâu dài với anh chị em, muốn Lời của Chúa được lan tỏa bằng chính ngôn ngữ, nếp sống của người bản địa, bắt buộc phải học tiếng, học nếp sống, học những điều cấm kị nơi các làng mình đến. Ta đừng vội làm, vội nói khi ta chưa “biết”. Ta say mê trong việc bác ái từ thiện nhưng lại mệt mỏi khi đi làng “làm quen, chơi với người làng”. Ta làm bác ái từ thiện là một điều tốt nhưng nếu làm không đúng, công việc ấy sẽ phá nát vùng đất loan báo Tin Mừng. Người làng sẽ theo ta mà không theo Chúa.







Pô Hial