Trong xã hội truyền thông hôm nay, con người sống giữa môi trường ô nhiễm tiếng ồn ở mức đáng báo động. Kỷ luật tu trì liên quan đến thinh lặng đang dần được miễn chuẩn rất nhiều. Đời sống cộng đoàn dòng tu dường như đang bị thách thức, vừa bởi sự ồn ào xâm lấn, vừa bởi nhu cầu được chữa lành, được lui vào trong sự tĩnh lặng. Plutarch- một nhà triết học và đức học người Hy Lạp từng viết “Tôi chưa bao giờ phải hối hận vì đã im lặng, nhưng thường hối hận vì đã nói quá nhiều”. Người tu sĩ ngày nay ý thức nhiều hơn về không gian thinh lặng cho cá nhân, mong muốn tìm đến nơi thanh vắng, xa phố thị, ít tiếng ồn để được chữa lành. Trong bối cảnh đó, những câu hỏi cần được xem xét kỹ càng phải chăng là: Hiểu sao cho đúng về thinh lặng? Bởi không phải bất cứ sự thinh lặng nào cũng là dấu chỉ của sự khôn ngoan, của tự do nội tâm hoặc là thinh lặng của nhân đức. Vậy, thực chất của thinh lặng là gì? Việc tìm kiếm và khao khát thinh lặng có ý nghĩa gì? Phải chăng tu sĩ hôm nay thiếu không gian tĩnh cho đời nội tâm nên họ thật sự cần thinh lặng? Đâu là biên giới, ranh giới của nội vi? Có phải tính năng “cách âm” trong đời tu đã bị vô hiệu hóa dưới tác động của công nghệ và thiết bị số? Thinh lặng đóng góp gì cho đời sống cộng đoàn và cần phải làm gì để tái huấn luyện khả năng thinh lặng trong đời sống thánh hiến?

1.  Thinh lặng trong Thánh Kinh:

Để nhận diện được thinh lặng là gì, cần nhìn lại ý nghĩa của nó thông qua giáo huấn của Lời Chúa về thinh lặng.

Sách Sáng Thế miêu tả sự thinh lặng trong đau đớn của Giacob khi hay tin con gái mình bị hãm hiếp (St 34,35). Văn chương Khôn Ngoan nhiều lần nói đến thinh lặng, nhiều lần khuyên đừng bô bô cái miệng; Ai càng năng nói càng năng lỗi (Cn 10,19). Sách Giảng Viên nhắc đến “một thời để nói, một thời để im lặng” (GV 3,7) vì “càng lắm lời, càng nhiều chuyện hão” (Gv 6,11). Dẫu mang ý hướng tốt lành, song trước nỗi thống khổ của bạn bè, của người thân, dường như thái độ lịch sự, tế nhị và chuẩn mực chính là sự thinh lặng. Ông Giob đã phản hồi lại với các bạn của mình khi họ khuyên nhủ ông trước những đau khổ ông đang gánh chịu rằng “phải chi các anh biết nín lặng! Như thế các anh mới là người khôn ngoan” (G 13,5).

Kinh Thánh cũng nhìn nhận sự thinh lặng không thuần túy là sự khôn ngoan của con người. Nhưng trước hết và trên hết, nó là ân sủng đến từ Thiên Chúa và con người phải cầu xin Ngài ban ân sủng ấy cho. “Lạy Chúa, xin canh giữ miệng con và trông chừng lưỡi con” (TV 140,3).

Trong Tân Ước, thánh Giacobe nói đến sự nguy hiểm của việc không kiểm soát ngôn từ, vì “ai cho mình đạo đức mà không kiềm chế miệng lưỡi, là tự dối lòng mình, vì đó chỉ là thứ đạo đức hão” (Gc 1,26). Cũng trong mạch tư tưởng ấy, thánh Giacobe cho biết vấp ngã đầu tiên và nguy hiểm nhất nơi con người ở chính là điều khiển miệng lưỡi của mình. Thế nên, thánh nhân khẳng định “ai không vấp ngã về lời nói, ấy là người hoàn hảo, có khả năng kiềm chế bản thân” (Gc 3,2). Chúa Giê-su cũng đã giữ sự im lặng khi Philato chất vấn Người. Sự im lặng của Chúa Giê-su trước Philato, trước Hê-rô-đê và Thượng tế không mang tính thần bí, mà là sự im lặng quyền lực trước cái ác. Vì Ngài không để mình bị hạ thấp xuống ngang tầm trò chơi của họ. Ngài dùng sự im lặng để phơi bày cái ác trong sự trần trụi và đối đầu với nó (Mt 27,12-14). Cũng có khi, Chúa lại cho thấy lời nói ra cũng chính là mưu chước ma quỷ khi Người “quay lại bảo ông Phê-rô: “Xa-tan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.” (Mt 16,23).

Dẫu vậy, Kinh Thánh không chỉ nhìn nhận thinh lặng thuần túy là điều hay. Các ngôn sứ đã nhiều lần lên án các mục tử khi họ im lặng để đoàn chiên bị bách hại (Is 26,10). Chúa Giêsu nhìn nhận sự câm lặng là thế lực Satan khi người gọi tên chúng là “thần câm” hay “quỷ câm” (Mt 9,31). Trong bối cảnh này, sự thinh lặng là mưu chước ma quỷ, nó khiến người ta khép mình lại và câm lặng trước sự thật, công lý và từ chối sự giải thoát. Cũng chính Chúa Giêsu lại khuyến khích thậm chí giao nhiệm vụ phải nói. Ngài đã ngỏ lời với Thánh Phaolo “đừng sợ, hãy tiếp tục nói, đừng im. Ta ở cùng ngươi” (Cv 18,9-10). Đáp lại lời mời gọi này, Phaolo đã khẳng khái xác nhận rằng “chúng tôi cũng tin, nên chúng tôi mới nói” (2 Cr 4,13). Như vậy, việc lên tiếng ở đây chính là thực thi sứ mệnh mà Thiên Chúa ủy thác cho người môn đệ của Ngài.

Những dẫn liệu trên phần nào đưa chúng ta đến sự hoang mang. Vậy phải hiểu thế nào là thinh lặng và thinh lặng thế nào mới thực sự là ý muốn của Thiên Chúa và đem lại ích lợi cho từng người và cho cộng đoàn? Để hiểu được, thiết tưởng ta cần tìm hiểu qua một chút về thinh lặng.

2.  Hiểu sao cho đúng về thinh lặng

Đức Hồng y Robert Sarah trong tác phẩm ThePower of Silence (Sức mạnh của sự im lặng) đã nói về bản chất và ý nghĩa của thinh lặng. Trước tiên, thinh lặng là ngôn ngữ của Thiên Chúa, là không gian thuận tiện cho cuộc gặp gỡ cá vị với Ngài. Ở góc nhìn này, thinh lặng không thuần túy là vắng bóng âm thanh, không là sự tách khỏi tiếng ồn vật lý, mà là trạng thái hiện hữu tĩnh lặng thiêng liêng, nơi tâm hồn con người gặp gỡ được Thiên Chúa và được Ngài biến đổi.

Cùng cách nhìn như vậy, William L. Brownsberger cho rằng thinh lặng không phải khoảng trống tiêu cực, cũng không phải là khoảng trống cần được lấp đầy, cũng không phải là ngôi nhà trống rỗng, càng không đơn thuần là sự vắng bóng và nghỉ ngơi khỏi tiếng ồn hay hoạt động nặng nhọc. Nó chính là thời gian cần thiết đối với người sẵn sàng lắng nghe, là phương thức hiện diện của con người trước mặt Thiên Chúa, cho phép Ngài hiện diện một cách mãnh liệt với con người như chính Ngài vốn có. Trong viễn cảnh này, thinh lặng chính là một lối giao tiếp trọn vẹn, trang nghiêm và có ý nghĩa nhất. Sự thinh lặng nói được nhiều điều hơn sự diễn tả bằng ngôn từ.

Thinh lặng còn được nhìn thấy trong mẫu gương đời sống của Mẹ Maria và Thánh Giuse. Mẹ là người phụ nữ của thinh lặng-lắng nghe. Mẹ thinh lặng để suy đi gẫm lại trong lòng. Mẹ dẫn dắt chúng sinh vào cuộc gặp gỡ thầm lặng với Chúa Kitô. Càng thinh lặng, Mẹ càng thấu hiểu được ý muốn của Thiên Chúa trong cuộc đời Mẹ. Nhờ thinh lặng, Mẹ vững vàng thưa tiếng Xin Vâng. Cũng vậy, nơi thánh Giuse, người ta nhận thấy sự im lặng của ngài thấm đẫm sự chiêm niệm mầu nhiệm. Ngài không biểu hiện sự trống rỗng bên trong mà là sự thinh lặng trọn vẹn của đức tin, dẫn đến thái độ luôn sẵn sàng đáp ứng lời mời gọi huyền nhiệm của Thiên Chúa.

Dưới góc độ nhân sinh, người xưa quan niệm "im lặng là vàng". Tự điển tiếng Việt định nghĩa thinh lặng là im lặng không nói gì, là không lên tiếng, là lặng thinh không đáp, là ngồi lặng thinh suy nghĩ. Thinh lặng còn có nghĩa là nín thinh. Thinh lặng là một nghệ thuật sống và là thước đo trí tuệ. Thinh lặng không chỉ là không nói, mà còn là khoảng lặng để quan sát, thấu hiểu lòng người và tu dưỡng bản thân. Ca dao tục ngữ Việt Nam cũng đề cao sự cẩn ngôn như là cách biết giữ sự thinh lặng chừng mực.

Khôn ngoan chẳng lọ nói nhiều.

Người khôn nói một vài điều cũng khôn.

Hoặc

Nhiều lời, chuốc oán, rước phiền.

Ít lời, ít tội, bình yên cõi lòng.

Trong thời đại kỹ thuật số và trí thông minh nhân tạo hôm nay, thinh lặng phải được hiểu như một hành vi bảo vệ chủ quyền nội tâm. Chủ quyền nội tâm là khả năng dừng lại và kiểm soát kích thích, không phản ứng ngay, không để thuật toán quyết định toàn bộ điều mình nhìn, nghĩ, muốn và nói. Người có chủ quyền nội tâm là người biết đặt công nghệ vào vị trí phương tiện, thay vì để chúng quấy nhiễu và xâm lấn vào mọi hành vi, ngóc ngách cuộc sống của mình.

3.  Giá trị của thinh lặng

Dưới góc độ khoa học, thinh lặng là cách phục hồi sự chú ý. Với sự tác động của các bản tin, thông điệp, video cực ngắn như ngày nay, sự chú ý bị chia nhỏ liên tục. Con người mất dần khả năng suy nghĩ sâu và cảm nhận sâu. Thinh lặng phục hồi sự chú ý bằng cách giảm kích thích, làm chậm nhịp phản ứng và cho phép tâm trí thu hồi năng lượng bị phân tán., Điều này rất quan trọng trong giáo dục. Một người học không có khả năng thinh lặng sẽ khó đọc sâu, khó viết sâu, khó cầu nguyện sâu, khó lắng nghe sâu. Người ấy có thể biết nhiều mẩu thông tin nhưng thiếu khả năng tổng hợp ý nghĩa. Vì thế, thinh lặng còn là điều kiện nền tảng của việc học hành trong linh đạo Đa Minh.

Thinh lặng là cách con người mở cửa căn nhà nội tâm. Khi bước vào thinh lặng, con người tách mình khỏi những sự xao nhãng từ những lời nói chuyện phiếm tầm thường, từ những kích thích bởi các nguồn thông tin ngắn, nhanh, hời hợt và ít giá trị. Nhờ đó, họ bước vào căn nhà nội tâm để tìm thấy chính mình trong mối tương quan sâu thẳm với Thiên Chúa và với chính bản thân mình.Thinh lặng là phương thế hữu hiệu giúp con người sống hiệp thông với Thiên Chúa. Sự thinh lặng bên ngoài là trạng thái giảm thiểu tối đa tiếng ồn và mở lối cho sự liên kết giữa tâm hồn con người với Chúa Ba Ngôi, chuẩn bị con người đón nhận sự hiệp thông. Sự thinh lặng này dẫn đến sự kết hợp vĩnh cửu, liên tục với Chúa.

Thinh lặng còn là cách hiện diện trọn vẹn và bền vững, hướng đến sự hiến dâng.Lúc này, thinh lặng không phải là sự vắng mặt của lời nói mà là một sự thấu cảm trọn vẹn, hướng đến hành động tự hiến dâng. Trong thinh lặng, người tu sĩ tiếp nhận sự hiện diện của Thiên Chúa để từ đó có tự do sâu sắc hơn trong sứ vụ. Sự thinh lặng được xem là một trong những phương tiện chính để gìn giữ tâm hồn tiến bước trên con đường nhân đức.

Thinh lặng vừa là tấm gương soi chiếu bản thân, vừa là chiếc nôi nuôi dưỡng các nhân đức và mang lại sự sáng suốt cho con người. Qua thinh lặng, con người rút lui khỏi sự ồn ào để lắng nghe nội tâm, nhận ra rõ ràng cả điểm mạnh lẫn điểm yếu của mình mà không bị che khuất bởi các yếu tố bên ngoài. Đơn giản hơn, nhờ thinh lặng, con người nghe đếm được từng nhịp tim nhịp thở, từng tiếng thầm thì của cơ thể mình. Sự thinh lặng khiêm nhường thừa nhận giới hạn của lý trí và hiểu biết của con người và chấp nhận mở lòng đối với một ánh sáng khác. Việc đắm mình trong sự thinh lặng giúp con người gỡ bỏ lớp vỏ tự mãn, thúc đẩy sự khiêm nhường, nhận ra sự phụ thuộc vào Chúa và rèn luyện lòng kiên nhẫn, học cách chờ đợi, làm chậm lại, nghe chậm lại, nói chậm lại, nghĩ chậm lại và hành động chậm lại. Dĩ nhiên, không phải bất cứ sự thinh lặng nào cũng đương nhiên là nhân đức, là lành mạnh, là dấu chỉ của sự khôn ngoan hay chiều sâu nội tâm. Sự thinh lặng khôn Ngoan giúp người ta có thêm thời gian để suy nghĩ thấu đáo hơn, cẩn thận hơn, sáng suốt hơn trong các lựa chọn cuộc sống và có thêm sức mạnh để yêu thương, phục vụ người khác.

Thinh lặng còn là cơ hội và yếu tố nền tảng để phát triển cá nhân. Sự thinh lặng như một điều riêng tư và bảo vệ nhân cách con người. Sự hiện diện trong thinh lặng thể hiện sự sẵn lòng đón nhận và lắng nghe người khác thay vì ép buộc ý kiến của mình bằng lời nói. Sự thinh lặng kỳ diệu và đáng ca ngợi nhất là thinh lặng của tình yêu, nơi mà người tu sĩ hiện diện với cộng đoàn, với chị em trong lúc vui lúc buồn, đặc biệt là trong những thử thách đau khổ của tổn thương, của thất vọng, của kiệt sức tâm hồn, nơi mà sự biểu hiện của ngôn từ trở nên trống rỗng và vô nghĩa hơn bao giờ hết.

4.  Những thách thức của sự thinh lặng đời tu hôm nay

Thiếu thinh lặng bên ngoài là bước đầu tiên của sự khủng hoảng thinh lặng nội tâm. Ngày nay, có vẻ như giữ được thinh lặng là thách thức lớn đối với người tu sĩ. Nhưng làm thế nào để biện phân giữa sự im lặng của kẻ người hướng nội với sự câm lặng của kẻ hằn học, của người oán hờn, của của kẻ ghét người, của kẻ thu về mình trong sự bất mãn hằn học với sự thinh lặng của xây dựng cộng đoàn và yêu thương đồng loại? Câu trả lời là: tiêu chuẩn phân định của sự thinh lặng chỉ có một- đó chính là tình yêu- tình yêu trong tương quan của mình đối với Thiên Chúa và tha nhân.

Dưới tác động của tiếng ồn, dường như người tu sĩ hôm nay đang tự tha hóa bản thân. Đó là lúc họ tìm cách né tránh tĩnh lặng bằng cách tiếp cận các ứng dụng trên mạng xã hội, bỏ dần thói quen đọc sách truyền thống, các giờ cầu nguyện yên tĩnh trước Thánh Thể cũng ngắn lại. Sống trong tiếng ồn liên tục và trống rỗng khiến con người tự tách mình ra khỏi chính mình trong một trạng thái hưng phấn giả tạo. Hậu quả là những video ngắn, những nội dung nhỏ thoáng qua khiến người ta mất sự tập trung, mất khả năng chú ý và dần mất luôn sự nhạy bén, tinh tế trong quan sát.

Nội vi cộng đoàn mong manh đến mất dần ranh giới. Sự tĩnh lặng vật lý có vẻ rất hoàn hảo khi các giờ thinh lặng cộng đoàn được giữ nghiêm nhặt, khi không còn ai phải nói chuyện với nhau nhỏ tiếng vào các giờ cấm, khi cánh cổng tu viện khép lại giờ tiếp khách. Nhưng thật nguy hiểm, đằng sau sự thinh lặng vật lý ấy lại chính là lúc người tu sĩ bận rộn nhiều nhất với các tương quan, với những dòng tin nhắn, với những trang mạng. Sự cuốn hút, dẫn đường của các thuật toán công nghệ dẫn người ta tới đủ loại giao tiếp. Lúc này, tiếng chuông báo thức trong tu viện hay chiếc đồng hồ sinh học của từng cá nhân đã trở nên vô hiệu, bị xóa sổ giống hệt những chiếc điện thoại “2G”. Người tu sĩ giờ đây bước vào ngày mới có vẻ linh hoạt hơn bằng báo thức từ chiếc điện thoại. Cũng từ lúc này, cuộc sống xô bồ và ồn ào trong nội tâm người tu sĩ bắt đầu. Khi tâm trí đã quen với tiếng ồn, nó sẽ tự tạo ra sự xao nhãng và huyên thuyên vô nghĩa cho chính mình bằng lời nói hoặc trí tưởng tượng ngay cả khi xung quanh không có âm thanh.

Đời sống thiêng liêng mờ nhạt, thiếu nội lực và nguy cơ phạm tội. Việc không giữ thinh lặng và nói năng bừa bãi làm tổn hại đời sống thiêng liêng. Nóhủy hoại lòng đạo đức, giống như một ngôi nhà mở toang cửa sẽ dễ bị mất trộm.Nó cũng làm tan biến ơn ích của việc cầu nguyện. Bởi những tu sĩ nói năng quá nhiều sẽ mất đi sự ngọt ngào, ơn ích và sự sốt sắng khi rước lễ, suy niệm hay viếng Thánh Thể. Nghiêm trọng hơn, nói quá nhiều cũng chính là lối tắt, là cao tốc đưa đến tội lỗi.

5.  Tiến trình huấn luyện cách thinh lặng và những gợi ý trong đào tạo

Hướng dẫn của bộ giáo sĩ về việc đào tạo linh mục và chủng sinh đã khẳng định việc đào tạo khả năng thinh lặng cho huấn sinh là nhiệm vụ chính trong đào tạo. Những người đào tạo trong chủng viện phải đào tạo chủng sinh về sự tĩnh lặng nội tâm để họ chuẩn bị trở thành những người hướng dẫn cầu nguyện và hướng dẫn tâm linh tương lai.  Bởi vì, chính sự hình thành tâm linh và tĩnh lặng nội tâm là nhiệm vụ cấp thiết để đối phó với chủ nghĩa tương đối và chủ nghĩa thế tục. Nhiều chủng sinh bước vào chủng viện khi ngày dài đã bị lấp đầy bởi các kích thích công nghệ và sự xao nhãng; họ cần sự tĩnh lặng để đón nhận đức tính phân biệt đúng sai và sự cân nhắc.

Cùng chung mục tiêu ấy, Đức Giáo hoàng Benedicto XVI, trong bài giảng trong Thánh lễ đồng tế với các thành viên Ủy ban Thần học Quốc tế (International Theological Commission), ngày 6 tháng Mười 2006 đã nhắc đến việc đào tạo sự thinh lặng cho các linh mục là tiền đề quan trọng cho việc tiếp cận thần học. Theo ngài, “việc học thần học đòi hỏi một nền giáo dục về sự tĩnh lặng và chiêm nghiệm. Vì chỉ khi xuất phát từ sự tĩnh lặng của chiêm nghiệm thì lời nói của linh mục mới có giá trị, không phải là những lời lẽ khoa trương của thế gian”.

Dĩ nhiên, việc đào tạo khả năng thinh lặng không chỉ là yêu cầu bắt buộc đối với các chủng viện, mà còn với cả các dòng tu nữa. Người tu sĩ nếu không biết thinh lặng, chắc chắn sẽ không có gặp gỡ tâm linh với Thiên Chúa, không có khả năng lắng nghe bản thân, càng không biết cách đến với anh chị em mình để cảm thông và sẻ chia. Cũng thế, khi bước theo linh đạo Đa Minh, người tu sĩ sẽ không thể nói với Chúa và nói về Chúa nếu chưa học biết kết hiệp và lắng nghe Lời Chúa, nếu chưa chuyên tâm học hành thánh khoa và nhân học cách nghiêm túc bằng sự thinh lặng thể lý và nhiệm hiệp.

Đối với những người quen sống trong nền văn hóa tiếng ồn, sự thinh lặng ban đầu được trải nghiệm như một nỗi khổ, sự nhàm chán, bí bách, tù túng, ngột ngạt, mất tự do và khó khăn. Khi tách khỏi công nghệ, âm nhạc, nhắn tin, sự xáo trộn của im lặng khiến con người đối diện với "suy nghĩ của riêng mình" và cảm thấy "đáng sợ". Người ta dễ dàng nhìn thấy điều này khi nhiều ứng sinh sớm từ bỏ ý hướng dâng mình cho Chúa trong các nhà dòng, các chủng viện chỉ vì không thể tiếp nhận được những không gian và thời gian thinh lặng. Họ né tránh sự thinh lặng khi đồng nhất sự thinh lặng với sự cô đơn, bị cô lập nên tìm cách chống lại nó bằng việc lén lút nhắn tin, liên lạc bí mật hoặc tìm kiếm các hoạt động bận rộn để xoa dịu nỗi đau tinh thần.

Thiết lập không gian thinh lặng bên ngoài. Hội dòng cần tái xác định lại cácquy định bắt buộc về các khoảng thời gian thinh lặng thiết yếu bên ngoài để bảo tồn mục đích của sự thinh lặng bên trong. Điều này giúp tu sĩ chịu đựng được các khoảng lặng mục vụ thực tế, như trước nỗi đau khổ bất ngờ của người thân hay chị em trong cộng đoàn, trước những xáo trộn, thử thách của đời sống chung mà không cố lấp đầy nó bằng những lời nói lo lắng hay những lời khuyên vội vàng...

Rèn luyện và duy trì thói quen đọc Kinh Thánh và suy niệm mỗi ngày. Thói quen để Lời Chúa tác động đến tâm hồn qua Lectio Divina là trường học gieo rắc sự tĩnh lặng nội tâm dễ dàng nhất. Nó làm giảm bớt sự xáo trộn của các suy nghĩ lan man, giúp tâm hồn nghỉ ngơi trong mối quan hệ thân mật với Chúa Ba Ngôi và điều hòa cảm xúc bằng chân lý mặc khải.

Đào luyện khả năng phân định và chiêm niệm. Khi người tu sĩ có khả năng thinh lặng, thì sâu thẳm nơi tâm hồn họ, các tiếng nói hỗn độn được phân định để nhận biết tiếng nói nào đến từ Chúa, tiếng nói nào đến tự sự an ủi ngọt ngào nhưng lôi kéo người ta xa Chúa hơn. Cũng qua sự phân định trong thinh lặng, người tu sĩ có khả năng đón nhận và chống lại các cảm xúc tiêu cực. Để đằng sau tất cả những ồn ào, bộn bề của kiếp người, tu sĩ ấy chỉ nhìn ngắm dung mạo Chúa Giêsu trong đời mình và nơi anh chị em mình.

6.  Giải pháp chống lại tiếng ồn và cách thực hành thinh lặng:

Bên cạnh những giải pháp thực hành mang tính đào luyện, cá nhân mỗi tu sĩ cần nhận diện nguồn gốc tiếng ồn tác động mạnh đến bản thân và đời sống chung dẫn đến việc đưa ra tiêu chí thực hành cụ thể hàng ngày như:

-         Tái thiết lập lại đồng hồ sinh học hoặc sử dụng lại tiếng chuông báo thức đầu ngày thay cho việc báo thức bằng điện thoại hoặc các thiết bị số.

-         Dành ra vài phút yên tĩnh vào lúc bắt đầu và kết thúc ngày để cầu nguyện hoặc thinh lặng trước Thánh Thể.

-         Tạo một góc nhỏ yên tĩnh, thoải mái trong nhà, nơi phòng riêng để làm nơi trú ẩn tinh thần, giống cách các thánh nữ Teresa Hài Đồng Giêsu và Rosa Lima đã từng làm.

-         Thực hiện các khoảng lặng ngắn, có chủ đích trong ngày để hít thở và tạm tách khỏi công việc.

-         Thiết lập khoảng thời gian cố định (ngày/ tuần/ tháng) ngắt kết nối hoàn toàn với các thiết bị kỹ thuật số.

-         Tuân thủ luật thinh lặng của cộng đoàn. Duy trì nội vi vật lý và tâm lý bằng cách hạn chế các giao tiếp vào giờ thinh lặng theo luật. Cần tuyệt đối tôn trọng các giờ thinh lặng nghiêm ngặt theo hiến chương và quy tắc của tu viện. Trường hợp có việc thực sự cần thiết phải nói trong giờ thinh lặng, chỉ được dùng vài lời nói thầm hoặc bằng ký hiệu.

-         Tránh xa các cuộc tám chuyện, gẫu chuyện. Tu sĩ cần tránh tối đa việc đứng ở cửa sổ, cửa ra vào hay các nơi đón tiếp để nói chuyện với người qua kẻ lại. Tránh túm tụm lại những nơi đang ồn ào và có biểu hiện của các cuộc trò chuyện vô bổ. Nếu bắt buộc phải tiếp xúc vì bổn phận hoặc sự vâng lời, phải giữ lời lẽ ngắn gọn, thánh thiện và tôn nghiêm.

-         Tập “đi nhẹ-nói khẽ- cười duyên”. Khi nói chuyện, ngay cả với các chị em trong tu viện, cần nói với giọng điệu khiêm tốn, nhỏ nhẹ và không được tranh cãi hay áp đặt ý kiến cá nhân. Không cắt ngang lời nói của người khác, không vội vàng đưa ra lời khuyên hay tiếp tục dẫn dắt câu chuyện theo chiều hướng “châm dầu vào lửa” hoặc đẩy câu chuyện theo hướng tệ hại hơn.

Để kết

Giữa nền văn hóa kỹ thuật thời đại số đầy sôi động, náo nhiệt, bồn chồn nhưng lại chứa đựng cái chết trong sâu thẳm tâm hồn vì thiếu kỷ luật tâm linh, sự thinh lặng bên ngoài dẫn lối vào thinh lặng nội tâm chính là món quà bất ngờ và có giá trị siêu việt. Nó vừa là khoảng không gian riêng tư để mỗi cá nhân phát triển và bảo vệ phẩm giá của mình, vừa là điều kiện tiên quyết để người tu sĩ sống mối tương quan thân mật với Đấng mà họ gắn bó suốt đời. Cùng một cách nghĩ như thế, sự thinh lặng trong đời sống cộng đoàn còn là cách thế để người tu sĩ sống chậm lại, để cẩn trọng nhìn ngắm, quan sát, đóng góp cho sự bình an và phát triển của cộng đoàn. Chính sự thinh lặng của thấu hiểu, đồng cảm, yêu thương chân thành và sẵn sàng lắng nghe sẽ làm sung mãn đời sống chung, nơi mà người tu sĩ được mời gọi sống trước huyền nhiệm nước trời.

 

Tài Liệu Tham Khảo

1.    Kinh Thánh Cựu và Tân Ước, bản online. https://www.augustino.net/kinh-thanh

2.    Tự điển tiếng Việt Soha tra từ http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/L%E1%BA%B7ng_thinh

3.    Bài giảng của Đức Giáo hoàng Benedicto XVI, trong Thánh lễ đồng tế với các thành viên Ủy ban Thần học Quốc tế Interhttps://www.vatican.va/content/benedict-xvi/en/homilies/2006/documents/hf_ben-xvi_hom_20061006_commissione teologica.html

4.    Robert Cardinal Sarah with Nicolas Diat, The power of Silence,

5.    James Keating, “Seminary Formation and Interior Silence”, Institute for Priestly Formation, Creighton University Omaha, NE. Nova et Vetera,English Edition, Vol. 10, No. 2 (2012): 307–19

6.    The complete works of Saint Alphonsus De Liguori, The True Spouse of Jesus Christ

7.    William L. Brownsberger, “Silence”, https://wyomingcatholic.edu/wp-content/uploads/Silence-Brownsberger.pdf

 

Soeur Mary of Rosary