Sài Gòn tiết trời vào hạ, cái nắng oi ả phủ kín cả bầu trời. Mới chớm sáng nhưng tiết trời đã ngột ngạt nóng nực, ánh mặt trời mỗi lúc một gay gắt. Bên trong khung cảnh tĩnh lặng của nhà nguyện, những tia nắng rọi chiếu xuyên qua các khung cửa, đưa tôi về miền ký ức đã qua. Ngày ấy, khi thời gian đã điểm, hành trang đã sẵn sàng, tôi tạm xa Sài Gòn, bắt đầu sứ vụ tại mảnh đất Tây Nguyên. ánh cửa truyền giáo mở ra, đưa chân tôi đến mục vụ tại một ngôi làng xa xôi của anh em đồng bào nơi đại ngàn lộng gió.

Lần đầu tiên bước chân tới nơi ấy, tôi không thể tin vào mắt mình. Ngôi làng nằm sâu trong một thung lũng, khí hậu khá khắc nghiệt, đất đai cằn cỗi, nứt nẻ đầy sỏi đá, bao bọc xung quanh ngôi làng là núi rừng trùng điệp. Dưới lòng thung lũng lại thưa thớt vài bóng cây liêu siêu gai góc và những ngôi nhà sàn đã cũ ọp ẹp. Chừng như những gì tôi tưởng tượng về một miền đất Cao nguyên trù phú đang sụp đổ trước mắt tôi.

Thế nhưng có những điều đã lưu lại dấu ấn khó phai trong lòng tôi, trong đó, đặc biệt là những con người của buôn làng. Lần đầu thấy họ, tôi khá ngạc nhiên, tôi cứ ngỡ như mình đang lạc vào một bộ tộc của Phi Châu. Đi dạo quanh khu làng, tôi bắt gặp người bản địa với nhiều độ tuổi khác nhau. Thả mình giữa tiết trời của mùa hạ, từ những cụ già lom khom đến các em nhỏ lon ton, tất cả đều “đầu đội trời chân đạp đất” một cách đúng nghĩa đen: một cái đầu đội cả vùng trời nắng, một đôi chân trần đã chai cứng không còn cảm giác nóng bỏng của mặt đường, hay một làn da đen xạm đã rất quen thuộc với nắng và gió. Còn với một người mới đến như tôi, lòng không khỏi cót xa tự hỏi: “Làm thế nào mà họ có thể chống chọi được với sự khắc nghiệt của thời tiết như vậy?”.

Hình ảnh của những đứa trẻ với những cái tên khó đọc và cũng khó quên lần lượt lướt qua trong tâm trí tôi. Công việc mục vụ chính của tôi khi tới với buôn làng là dạy học cho các em nhỏ. Cũng sinh ra trong một làng quê nghèo, nên tôi cũng phần nào hiểu được sự vất vả của người dân nơi đây. Thế nhưng, tôi và bạn bè cùng trang lứa cũng được chăm sóc và ăn học chẳng thua thiệt gì ai. Còn những đứa trẻ ở đây, nhìn thân hình mảnh khảnh, hai hàng xương sườn nhấp nhô của các em cũng đủ để hiểu cuộc sống nơi đây thiếu thốn khó khăn thế nào. Vì hoàn cảnh gia đình, phần lớn trẻ em phải nghỉ học để phụ giúp cha mẹ công việc nhà. Vì vậy có những đứa trẻ đã khoảng mười đến mười lăm tuổi mà một phép tính cộng trừ vẫn còn là một phép tính khó. Trong tôi dâng trào bao thổn thức, bao ưu tư về tương lai của các em: Liệu rồi cuộc đời các em sẽ đi về đâu, hay lại tiếp tục vòng lặp luẩn quẩn, không thể bước ra khỏi thung lũng nhỏ bé này? Chính lúc ấy, tôi mới thấu cảm hết ý nghĩa sâu xa của lời Chúa Giêsu năm xưa: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (Mt 9, 38) là như thế nào.

Tôi tới giúp cho các em tiếp cận với cái chữ, con số, với ước mong các em có chút kiến thức và có thể đưa các em tiếp cận với thế giới bên ngoài. Lúc đầu tôi là người trao ban còn các em là người thụ hưởng. Thế nhưng, sau một thời gian tôi nhận lại nhiều hơn những gì tôi đã trao đi. Tuy cuộc sống của các em nghèo về vật chất nhưng không hẳn là các em không có gì để cho đi. Thật vậy, đến với đám nhóc, tôi nhận được từ những tâm hồn đơn sơ ấy sự quan tâm tinh tế, chân thành và tấm lòng quảng đại trao dâng.  Các em dành cho tôi một tình cảm rất đặc biệt: từ những cử chỉ, cách ăn mặc, hay một ánh nhìn của tôi đều được các em lưu tâm.

Không phải dễ dàng để tôi có được vị trí trong lòng các em như vậy. Những ngày đầu mới tới, tôi còn bỡ ngỡ lạ lẫm, còn đám trẻ thì rụt rè ngại ngùng. Sau vài ngày làm quen với môi trường, đi thăm hỏi vài gia đình và học được vài câu chào hỏi bằng tiếng bản địa, khoảng cách của chúng tôi được rút ngắn lại. Những rút rè của ngày mới làm quen nhường chỗ cho tình cảm đơn sơ được xây dựng. Tôi trở thành người thầy, người bạn thân thiết của các em. Tôi phát hiện ra: tấm lòng của một người môn đệ không phải chỉ là đứng trên giảng đường nói thao thao bất tuyệt những gì mình tâm đắc, mà là khi tôi dám đến bên tụi nhỏ, cùng đi vào nếp sống, cùng ăn uống, vui chơi, cùng đồng hành trong văn hoá và sinh hoạt hàng ngày với các em. Khi trở nên một chỗ dựa đáng tin cậy, một người thân thuộc của các em, khi ấy tôi mới thực sự đang đi vào cánh đồng lúa của Giáo Hội. Đến thăm các gia đình trong buôn làng, tôi mới hiểu hết lí do các em phải nghỉ học: Nhiều gia đình ăn không đủ no thì sao dám nghĩ tới chuyện ăn ngon, áo không có mặc thì nào ai dám mơ tới cái áo đẹp, phải chật vật mới kiếm ra từng đồng thì đâu dám ôm mộng làm giàu.

Giờ đây, tôi đã trở về lại với Sài Gòn, nơi phố xá ồn ào, nơi cuộc sống tấp nập, nơi được mệnh danh là “thành phố không ngủ”. Trong không gian ấy, tôi vẫn yêu thích bầu khí tĩnh mịnh bên trong nguyện đường của cộng đoàn. Giữa cái tấp nập của phố thị, bầu khí tĩnh lặng của nguyện đường đưa tôi đến gần với Thầy Giêsu hơn. Dù có bao bộn bề của công việc, bao lo toan của bổn phận, được kề bên Chúa và trong Chúa, tôi gặp gỡ anh em mình, gặp thấy người nghèo của Đức Kitô và những “người thân cận” của Tin Mừng.

Nhờ đó, tôi có cơ hội để nhìn lại chặng đường đã qua, dẫu cho trong tôi vẫn còn bao cảm xúc lạ lẫm của những buổi mới tới, hay những bịn rịn của ngày chia tay. Tất cả trong tôi là một miền ký ức. Sống với sứ vụ, đến với tha nhân là để tôi được trải nghiệm, được lớn lên trong ân nghĩa của Thầy Chí Thánh. Từ đó trong tôi thêm niềm xác tín: trên hành trình dâng hiến Chúa vẫn đang mời gọi tôi “hãy đi và làm như vậy” (Lc 10,37). Đứng trước bước ngoặt quan trọng của đời tận hiến cái tiếng gọi của ngày nào vẫn mãi vang vọng trong tôi, nỗi niềm khát khao “vì họ con xin thánh hiến chính mình con” (Ga 17,19) để tôi thêm vững bước theo Chúa.

Anna Trần