Tóm Tắt

Bản Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma do Ủy ban Phụng tự thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam biên dịch, phát hành ngày 19 tháng 3 năm 2026, đã hệ thống hóa cách viết chữ i thay cho chữ y ở nhiều từ Hán Việt mang tính phụng vụ, chẳng hạn hy tế viết thành hi tế, Tiệc Ly viết thành Tiệc Li, giáo lý viết thành giáo lí, hy lễ viết thành hi lễ, tín lý viết thành tín lí, chân lý viết thành chân lí. Bài luận này trình bày một lập trường phản biện có tính xây dựng đối với chủ trương đó. Người viết nhìn nhận một cách trung thực rằng trong âm vị học tiếng Việt hiện đại, i và y thường được xem là hai cách ghi của cùng một âm vị, nên vấn đề cốt lõi không nằm ở âm thanh mà nằm ở truyền thống chính tả, ở chiều kích văn hóa, thẩm mỹ và thánh thiêng của ngôn ngữ đức tin. Trên cơ sở các công trình ngôn ngữ học của Đoàn Thiện Thuật (1997), Nguyễn Tài Cẩn (1998), Cao Tự Thanh (2014), Cao Xuân Hạo (2001), Đào Tiến Thi (2010), kết hợp lịch sử dịch thuật Công giáo và một số luận điểm của tâm lý học nhận thức, bài viết lập luận rằng việc nhất loạt thay y bằng i làm đứt gãy một truyền thống chữ viết lâu đời và làm tổn thương cảm thức thánh thiêng đã kết tinh trong kho Thánh ca cùng văn chương đạo đức. Người viết kết luận bằng đề nghị Giáo hội gìn giữ cách viết truyền thống với chữ y dài trong các văn bản phụng vụ.

 
Từ khóa: chính tả tiếng Việt, chữ i và y, âm vị học, ngôn ngữ phụng vụ, truyền thống chính tả, Thánh ca, Đường Hy Vọng, di sản đức tin


Thử tưởng tượng một buổi chiều Thứ Năm Tuần Thánh. Cộng đoàn quỳ trong thinh lặng, ca đoàn cất lên bài dâng lễ quen thuộc, và trên màn chiếu hiện dòng chữ hi lễ tình yêu. Một thoáng ngỡ ngàng chạy qua. Người hát khựng lại nửa nhịp, không phải vì sai nốt, mà vì con chữ trước mắt bỗng lạ lẫm với điều trái tim vẫn thuộc. Tình huống giả định ấy không còn xa nữa. Ngày 19 tháng 3 năm 2026, bản Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma do Ủy ban Phụng tự thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam biên dịch được phát hành, trích lược từ Sách lễ Rôma đã được Hội đồng Giám mục Việt Nam phê chuẩn và được Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích chuẩn y năm 2025. Trong bản văn, hàng loạt từ vốn quen viết với y dài đã chuyển sang i ngắn: hy tế thành hi tế, Tiệc Ly thành Tiệc Li, giáo lý thành giáo lí, thế kỷ thành thế kỉ, tín lý thành tín lí, chân lý thành chân lí, hy lễ thành hi lễ.

Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma là văn kiện hướng dẫn toàn diện việc cử hành Thánh lễ theo nghi thức Rôma, là tài liệu nền tảng cho linh mục, tu sĩ, ban phụng vụ, ca đoàn và người giúp lễ. Cách viết trong văn kiện này rồi sẽ lan vào sách hát, sách kinh, tài liệu giáo lý, và từ đó vào tận lời nguyện của cộng đoàn. Vì vậy, một thay đổi tưởng nhỏ về chính tả lại có sức ảnh hưởng rất rộng và rất sâu.

Bài luận này được viết trong tinh thần tôn trọng công sức của những vị đã biên dịch, đồng thời thẳng thắn nêu một lập trường phản biện. Để cuộc trao đổi được khoa học và công bằng, người viết xin xác định ngay từ đầu một điều quan trọng. Trong âm vị học tiếng Việt hiện đại, iy khi đứng làm âm chính thường được xem là hai cách ghi của cùng một âm vị, chứ không phải hai âm khác nhau (Đoàn Thiện Thuật, 1997). Nói cách khác, lập trường gìn giữ chữ y không dựa trên chủ trương rằng hyhi phát âm khác nhau. Vấn đề cốt lõi nằm ở một bình diện khác, đó là truyền thống chính tả, chiều kích văn hóa lịch sử, cảm thức thẩm mỹ, và nhất là tính thánh thiêng của ngôn ngữ đức tin. Bài viết sẽ lần lượt soi vào từng bình diện ấy, sau khi điểm lại gốc rễ của cuộc tranh luận.

Một cuộc tranh luận đã hơn một thế kỷ

Chuyện iy không nảy sinh cùng bản Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma năm 2026. Theo Cao Tự Thanh (2014), ngay từ đầu thế kỷ XX, chính quyền thuộc địa Pháp đã đặt vấn đề cải cách, khi một hội nghị khảo cứu Viễn Đông năm 1902 đề nghị bỏ thói quen viết y vào chỗ của i trong những trường hợp như ky, ly, my. Sang giữa thế kỷ XX, vấn đề bước vào một giai đoạn sôi nổi hơn nhiều, gắn với phong trào chuẩn hóa chính tả ở miền Bắc sau năm 1954, với những tên tuổi như Nguyễn Kim Thản và Hoàng Phê (Nguyễn Kim Thản, 1977; Hoàng Phê, 1984).

Công trình khảo cứu kỹ lưỡng nhất về tiến trình pháp lý của vấn đề có lẽ là bài viết của Đào Tiến Thi (2010), đăng trên trang của Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Tác giả truy nguyên rõ ràng rằng hiện tượng nhất loạt viết i không bắt nguồn từ Quyết định số 240/QĐ năm 1984 như nhiều người lầm tưởng, mà từ Một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục ban hành ngày 30 tháng 11 năm 1980. Đáng nói là, theo Đào Tiến Thi (2010), Quyết định 240 năm 1984 lại không quy định nhất loạt viết i, thậm chí còn ghi rõ những quy định trước đây trái với quyết định này đều bị bãi bỏ. Tác giả dẫn lời Giáo sư Trần Trí Dõi, người khẳng định rằng cách viết thống nhất thành i chỉ là cách dùng riêng trong sách giáo khoa của Nhà xuất bản Giáo dục, nên đã không được cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đồng thuận chấp nhận (Đào Tiến Thi, 2010).

Thực tế lịch sử xuất bản xác nhận điều này. Từ thập niên 1970 đến 1990, nhiều sách giáo khoa, trước ở miền Bắc rồi sau trên toàn quốc, đã dùng các dạng lí luận, vật lí, kĩ thuật, mĩ thuật, có thể kiểm chứng qua các bộ sách của Nhà xuất bản Giáo dục giai đoạn 1981 đến 2002. Thế nhưng sang đầu thế kỷ XXI, xã hội lại có xu hướng quay về dạng truyền thống với y dài. Sự thiếu nhất quán ấy kéo dài đến tận hôm nay, khi Quyết định số 1989/QĐ-BGDĐT năm 2018 yêu cầu viết lí luận, mĩ thuật, còn Nghị định số 30/2020/NĐ-CP lại dùng Triều Lý, kỷ niệm với y dài. Khi chính các cơ quan công quyền còn chưa thống nhất với nhau, thật khó xem cách viết i là một chuẩn mực đã an bài để áp đặt lên ngôn ngữ thiêng liêng trong nhà thờ.

Giáo hội và cội nguồn chữ quốc ngữ

Người Công giáo Việt Nam có quyền nhắc đến một sự thật lịch sử với lòng biết ơn. Chữ quốc ngữ ra đời trong lòng công cuộc truyền giáo. Cao Tự Thanh (2014) nhận xét rằng chữ quốc ngữ được sáng tạo từ thế kỷ XVII và buổi đầu chủ yếu phổ biến trong cộng đồng Công giáo, vào lúc người Việt còn dùng chữ Hán và chữ Nôm. Lịch sử ghi nhận công của nhiều thừa sai Dòng Tên: Linh mục Francisco de Pina dạy tiếng Việt cho Alexandre de Rhodes, Linh mục Gaspar d’Amaral soạn Từ điển Việt - Bồ, Linh mục Antonio Barbosa soạn Từ điển Bồ - Việt (Bùi Công Thuấn, 2025). Trên nền tảng ấy, Alexandre de Rhodes tổng hợp và bổ sung phần Latinh, cho ra đời cuốn Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum, tức Từ điển Việt - Bồ - La, in tại Rôma năm 1651, được xem là chứng thư khai sinh của chữ quốc ngữ (Thanh Linh, 2024).

Cần nói cho công bằng rằng chính tả quốc ngữ sơ kỳ chưa hề có một hệ thống thống nhất như ngày nay. Các văn bản quốc ngữ thế kỷ XVII và XVIII cho thấy sự dao động mạnh giữa iy, điều đã được nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận (Nguyễn Đình Hòa, 2009; Jacques, 2002). Tuy vậy, càng về sau, qua các từ điển và sách báo như Đại Nam Quấc Âm Tự Vị cuối thế kỷ XIX và Việt Nam Tự Điển năm 1931, một nhóm từ Hán Việt nhất định như lý, mỹ, kỹ dần được cố định với chữ y, và trở thành dạng quen thuộc của văn chương học thuật cũng như của nhà đạo. Truyền thống chữ viết Công giáo đã thừa hưởng và gìn giữ chính dạng ổn định ấy suốt gần bốn thế kỷ. Việc dịch thuật trong nhà đạo chưa bao giờ là chuyện cơ học, mà luôn cân nhắc cả âm thanh lẫn ý nghĩa thần học và sắc thái trang trọng, để rồi kết tinh thành một kho từ vựng thánh trong đó hy tế, hy lễ, Tiệc Ly, chân lý, giáo lý đều mang dáng chữ y.

Bản chất ngôn ngữ học: Từ âm vị đến truyền thống chính tả

Để lập luận được vững, cần phân định rạch ròi hai bình diện thường bị lẫn lộn trong các cuộc tranh cãi về iy. Bình diện thứ nhất là âm vị học, tức câu hỏi iy có ghi hai âm khác nhau hay không. Ở bình diện này, giới ngôn ngữ học hiện đại khá thống nhất rằng khi làm âm chính, iy chỉ là hai cách ghi của cùng một âm vị nguyên âm trước, hẹp, không tròn môi (Đoàn Thiện Thuật, 1997). Hoàng Phê, khi bàn về chuẩn hóa chính tả, cũng xem đây là vấn đề ký tự ghi âm chứ không phải khác biệt âm vị (Hoàng Phê, 2003). Người viết nhìn nhận điều này một cách trung thực, và không dựa lập luận của mình trên giả định rằng hyhi phát âm khác nhau.

Chính sự thừa nhận ấy lại mở ra bình diện thứ hai, nơi mới là vấn đề thật sự. Nếu xét thuần túy về âm, cả hai cách viết đều ghi đúng âm, nghĩa là không có cách nào sai. Khi đó, việc chọn i hay y không còn là chuyện đúng sai ngữ âm, mà là chuyện truyền thống, văn hóa và quy ước. Và ở bình diện này, một luận điểm cần được phát biểu cho thật chính xác để tránh ngộ nhận. Có người cho rằng y là dấu hiệu nhận diện từ Hán Việt. Điều này không đúng hẳn, bởi rất nhiều từ Hán Việt vẫn luôn viết với i, như thi, tri, nghi, vi, bi, di. Như Nguyễn Tài Cẩn (1998) chỉ ra, chính tả không hoàn toàn phản ánh âm thanh, mà còn phản ánh lịch sử phát triển của hệ thống chữ viết. Vì thế cách phát biểu chuẩn xác là: chữ y không đánh dấu nguồn gốc Hán Việt nói chung, mà đánh dấu một truyền thống viết lâu đời của một nhóm từ Hán Việt nhất định, như lý, mỹ, kỹ, kỷ, hy. Có thể xem sự tồn tại của y trong những từ ấy như một di tích lịch sử chính tả đáng trân trọng, hơn là một yêu cầu của ngữ âm.

Đặt trong khung đó, các từ phụng vụ đang được bàn tới như hy tế, hy lễ, giáo lý, chân lý, tín lý đều thuộc đúng cái nhóm từ Hán Việt đã được truyền thống cố định với chữ y từ lâu đời. Việc đổi chúng sang i, do đó, không phải là sửa một lỗi sai, mà là phá vỡ một di tích chính tả đã gắn với chúng qua nhiều thế kỷ. Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh (2014) cũng tỏ ý dè dặt với các quy định nhất loạt viết i, khi cho rằng can thiệp vào ngôn ngữ lúc chưa hiểu thấu đáo quá trình lịch sử của nó thì dễ rơi vào cảm tính. Còn Đào Tiến Thi (2010) thì chứng minh rằng giữ cách viết phân biệt không hề khó, vì có thể dựa trên một số quy tắc gọn gàng, và lợi ích của việc phân biệt nghĩa giữa các yếu tố đồng âm, như kì cọ so với kỳ vọng, là điều có thật.

Hai luồng quan điểm trong việc chuẩn hóa chính tả

Sẽ là phiến diện nếu trình bày vấn đề như thể chỉ có một phía đúng. Thực ra, cuộc tranh luận về iy trong giới ngôn ngữ học Việt Nam, kéo dài từ thập niên 1950 đến 1990, xoay quanh ba câu hỏi lớn và sâu sắc: chính tả nên dựa trên âm vị học hay trên truyền thống lịch sử, chữ viết có nên được hệ thống hóa tối đa hay không, và đến mức nào thì cải cách chính tả bắt đầu gây đứt gãy văn hóa đọc. Hiểu được ba câu hỏi này giúp ta thấy vấn đề không hề tầm thường.

Luồng quan điểm thứ nhất có thể gọi là khuynh hướng ngữ âm hóa, khá mạnh trong giới ngôn ngữ học miền Bắc sau năm 1954, với những tên tuổi như Nguyễn Kim Thản và Hoàng Phê. Lập luận cơ bản của khuynh hướng này rất chặt chẽ về mặt logic: nếu cùng một âm mà khi viết i, khi viết y thì hệ thống chính tả thiếu nhất quán. Đã viết thi, vi, tri với i, thì cũng nên viết lí, mĩ, kĩ với i, theo nguyên tắc một âm vị ứng với một cách ghi, nhằm giảm tối đa số ngoại lệ (Nguyễn Kim Thản, 1977; Hoàng Phê, 1984). Tinh thần này đứng sau nhiều đề xuất cải tiến chữ quốc ngữ và ảnh hưởng đến cả Quyết định 240 năm 1984. Người viết trân trọng tính nhất quán mà khuynh hướng này theo đuổi.

Luồng quan điểm thứ hai thận trọng hơn, tiêu biểu là Cao Xuân Hạo. Phía này không phản đối hoàn toàn việc chuẩn hóa, nhưng cảnh báo rằng chữ viết không phải chỉ là bản phiên âm của tiếng nói, mà còn mang tính lịch sử, tính văn hóa và tính ổn định của văn bản. Nếu cải cách quá mạnh, sách cũ và sách mới sẽ xa nhau, người đọc mất cảm giác quen thuộc, và hệ thống văn bản bị đứt đoạn. Đây là kiểu lập luận thường gặp trong các thảo luận về chuẩn hóa ngôn ngữ ở nhiều nước, không riêng Việt Nam. Điều thú vị, và cũng là bài học cốt lõi của xã hội học ngôn ngữ, là tuy phe ngữ âm hóa có lập luận lý thuyết khá mạnh, nhưng trong thực tế xã hội, báo chí, xuất bản, tên cơ quan và biển hiệu lại dần quay về với lý, kỹ, mỹ. Một hệ thống chính tả không tồn tại chỉ nhờ tính hợp lý học thuật, mà còn phải được cộng đồng chấp nhận. Chính sự chấp nhận của cộng đoàn đức tin là điều mà phần tiếp theo sẽ cho thấy.

Khi con chữ chạm vào điều thánh thiêng

Từ địa hạt lý thuyết, xin bước vào nơi người Công giáo cảm nhận vấn đề bằng cả trái tim, đó là kho Thánh ca và văn chương đạo đức. Chính ở đây, sự kỳ cục của việc đổi chữ lộ ra rõ nhất, vì nó va chạm trực tiếp với những bản văn đã in sâu trong ký ức đức tin của bao thế hệ.

Hãy bắt đầu với cố linh mục nhạc sĩ Phêrô Kim Long, người mà Đức Giám mục Giuse Vũ Duy Thống từng gọi tác phẩm Kinh Hòa Bình của ngài là một bài ca vàng của nền thánh nhạc Việt (Hội đồng Giám mục Việt Nam, 2010). Trong bài kinh phổ nhạc bất hủ ấy có câu mà gần như mọi người Công giáo Việt Nam đều thuộc:

“đem chân lý vào chốn lỗi lầm.”

Thử viết lại theo chính tả mới: đem chân lí vào chốn lỗi lầm. Cái uy nghi trang trọng của hai chữ chân lý, vốn gợi đến chân lý vĩnh cửu là chính Thiên Chúa, bỗng tụt xuống một âm hưởng nhẹ tênh, gần với li ti, chia li. Cũng cha cố Kim Long, trong một bài dâng lễ quen thuộc, đã viết “Nguyện Chúa Cha nhân từ nhận lễ hy sinh trên bàn thờ”. Đổi thành lễ hi sinh, câu hát mất đi sức nặng của một hành vi hiến tế, chỉ còn lại cảm giác hụt hẫng.

Linh mục nhạc sĩ Rôcô Nguyễn Duy, một trong những tên tuổi có các bài Thánh ca được hát nhiều nhất trong các nhà thờ hôm nay, cũng cho ta những thí dụ đắt giá. Trong bài dâng lễ Tấm Bánh Ly Rượu, ngài viết lời rất đẹp:

“Hiến dâng Cha khối tình, tình say mê Chân Lý.”

Chữ Chân Lý ở đây được viết hoa cả hai tiếng, một dấu hiệu cho thấy tác giả ý thức rất rõ rằng đây là một thực tại thiêng liêng, không phải chân lí theo nghĩa thông thường. Trong một bài hiệp lễ khác đó là bài Lắng Nghe Lời Chúa, cha Nguyễn Duy viết “Lời Ngài là chứa chan hy vọng, là đường để con hằng dõi bước”. Hai chữ hy vọng ấy, nếu đổi thành hi vọng, sẽ nghe như tiếng cười khúc khích hi hi mà Đào Tiến Thi (2010) đã nêu, chứ không còn là niềm hy vọng cánh chung của người Kitô hữu. Bài kết lễ Trong An Bình của ngài cũng mở đầu bằng “Ra về trong hy vọng và mừng vui”, một lời chúc đã theo chân biết bao tín hữu bước ra khỏi nhà thờ mỗi Chúa nhật.

Nhưng có lẽ thí dụ làm lay động lòng người nhất là tác phẩm Đường Hy Vọng của Đấng Đáng Kính, Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Cuốn sách gồm một nghìn lẻ một suy niệm, được ngài viết trên những tờ lịch cũ trong những đêm bị giam cầm, là ngọn lửa hy vọng mãnh liệt thắp sáng bao thế hệ người Công giáo Việt Nam. Ngay chính nhan đề tác phẩm đã là Đường Hy Vọng, với chữ y dài. Trong chương Hy Sinh, ngài viết những lời thấm thía:

“Con có thể hy sinh mạng sống, hy sinh cả cuộc đời, vì hy vọng chan chứa với Chúa Giêsu.” (Nguyễn Văn Thuận, 1975)

Chỉ trong một câu ngắn, ba chữ hy đã nối nhau như ba nhịp đập của một trái tim tử đạo: hy sinh, hy sinh, hy vọng . Bây giờ thử hình dung in lại nhan đề thành Đường Hi Vọng, và câu trên thành con có thể hi sinh mạng sống… vì hi vọng. Cảm giác kỳ cục là không thể chối cãi. Một chứng từ đức tin được viết bằng máu và nước mắt trong tù ngục bỗng mang dáng chữ của một bài đồng dao. Cái thiêng đã bị kéo xuống thành cái thường.

Và vào Chúa Nhật Lễ Lá, bảng thông báo giờ lễ trong Tam Nhật Thánh sắp tới được treo tại giáo xứ hoặc chia sẻ trên trang mạng xã hội có ghi dòng: Thứ Năm Tuần Thánh - Thánh Lễ Tiệc Li lúc 19g00. Cảm xúc và suy nghĩ lúc ấy sẽ là gì?

Những thí dụ trên cho thấy điều mà lý thuyết khó diễn đạt hết. Chữ y trong các từ phụng vụ là một phần của cảm thức thánh thiêng, chứ không đơn thuần là một mẫu tự. Khi người tín hữu đọc hy tế, hy lễ, chân lý, tín lý, mắt họ nhận ra ngay đây là ngôn ngữ trang trọng của Hội thánh, của mầu nhiệm, khác hẳn ngôn ngữ đời thường. Đổi y thành i là vô tình tháo bỏ cái dấu hiệu thị giác ấy, khiến lời thánh và lời tục trở nên khó phân biệt. Đây là có thể xem là chuyện gìn giữ một tầng nghĩa mà bao thế hệ đã gửi gắm vào con chữ.

Góc nhìn tâm lý học nhận thức và thẩm mỹ thị giác

Cảm giác kỳ cục mà người tín hữu trải nghiệm khi thấy hi tế, Tiệc li, giáo lí hay Đường Hi Vọng không phải là phản ứng cảm tính vô căn cứ. Nó có thể được soi sáng phần nào từ tâm lý học nhận thức, dù người viết xin thận trọng trình bày đây như những luận điểm gợi mở, chứ không phải kết luận đã được kiểm chứng thực nghiệm trên tiếng Việt. Các nghiên cứu về quá trình đọc cho thấy người đọc thành thạo không đánh vần từng chữ cái, mà nhận diện từ ở cấp độ cụm chữ và mẫu hình tổng thể, theo lối xử lý song song (Rayner et al., 2012). Cũng cần nói thêm rằng khoa học hiện đại cho thấy người đọc sử dụng cả hình dạng tổng thể của từ lẫn thông tin từng chữ cái, chứ không thuần túy dựa vào hình bóng của từ. Trên bình diện ngôn ngữ học, Cao Xuân Hạo (2001) gọi cái hình ảnh tổng thể đã quen thuộc ấy là Gestalt thị giác, gắn liền với nghĩa của từ và giúp người đọc phân biệt các từ đồng âm chỉ bằng cách nhìn mặt chữ.

Một lý thuyết kinh điển khác cũng soi sáng vấn đề là hiệu ứng phơi nhiễm đơn thuần của nhà tâm lý học Robert Zajonc, theo đó con người có xu hướng ưa thích những kích thích quen thuộc hơn (Zajonc, 1968). Từ đó có thể nêu một giả thuyết hợp lý rằng người đã quen nhìn chữ qua mấy thế hệ kinh sách sẽ thấy tự nhiên và dễ chịu hơn . Người viết nhấn mạnh đây là một suy luận ứng dụng, chưa phải kết quả nghiên cứu trực tiếp trên tiếng Việt, nhưng nó giúp giải thích vì sao cộng đoàn lại gắn bó đến vậy với dạng chữ cũ.

Về mặt thẩm mỹ thị giác, giới nghiên cứu kiểu chữ ghi nhận rằng y thuộc nhóm con chữ có nét thòng xuống dưới dòng kẻ, gọi là descender, cùng nhóm với g, j, p, q (Bringhurst, 2004). Chính nét thòng ấy tạo nhịp điệu lên xuống cho dòng chữ. Nhiều người sử dụng tiếng Việt cảm thấy các dạng lý, mỹ, kỹ cân đối và trang nhã hơn lí, mĩ, kĩ, dù người viết thành thật nhìn nhận rằng hiện chưa có nghiên cứu thực nghiệm quy mô lớn chứng minh dứt khoát nhận định này. Đào Tiến Thi (2010) đưa thêm một minh chứng khó quên về cảm thức số đông. Khi cả nước hướng về đại lễ một nghìn năm Thăng Long, tấm băng-rôn trang trọng nhất đặt nơi vườn hoa Lý Thái Tổ viết ĐẠI LỄ KỶ NIỆM 1000 NĂM THĂNG LONG HÀ NỘI, với chữ kỷ dùng y dài, chứ không ai viết KỈ. Nếu trong một dịp trọng đại của quốc gia, lòng người tự khắc chọn y dài cho xứng với sự trang nghiêm, thì lẽ nào trong Thánh lễ, nơi trang nghiêm nhất của đời sống đức tin, ta lại đi ngược cảm thức ấy để viết hi tế, giáo lí?

Hệ lụy mục vụ và tính nhất quán

Ngoài chuyện thẩm mỹ và cảm thức, còn một hệ lụy rất thực tế. Toàn bộ kho Thánh ca, sách kinh, tài liệu giáo lý và tác phẩm đạo đức của Giáo hội Việt Nam, tích lũy qua nhiều thế hệ, đều viết theo lối truyền thống với y dài. Quan sát của Đào Tiến Thi (2010) cho thấy trong số bốn mươi chín nhà xuất bản, có tới bốn mươi sáu nhà vẫn viết phân biệt iy, chứng tỏ cách viết i ngắn chưa bao giờ là dòng chảy chính của tiếng Việt thành văn.

Nếu Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma đi theo lối nhất thể i, hệ quả tất yếu là sự lệch pha giữa các văn bản trong chính Giáo hội. Ca đoàn cầm bản nhạc cũ in của lễ hy sinh trong khi sách hát mới ghi hi sinh. Giáo lý viên cầm trên tay giáo trình giáo lí nhưng thâm tâm vẫn xem là giáo lý. Một linh mục chủ tế cử hành Phụng vụ cho Thánh lễ Tiệc Ly nhưng trong sách lễ lại ghi là Tiệc Li. Sự xê dịch ấy, nhân lên qua hàng nghìn giáo xứ và nhiều thập niên, sẽ để lại một di sản văn bản chắp vá. Đào Tiến Thi (2010) đã cảnh báo về chính loại tiền hậu bất nhất này, khi chỉ ra rằng có nhà xuất bản viết mĩ thuật với i nhưng lại viết tên riêng Chương Mỹ với y, dù hai chữ cùng một nghĩa là đẹp. Riêng với tên riêng, lẽ thường ai cũng tôn trọng cách cha mẹ đã đặt, nên một quy định cứng nhắc lại càng dễ gây phiền toái không đáng có.

Lắng nghe phía chủ trương viết i

Công bằng mà nói, phía chủ trương viết i có những lý lẽ đáng trân trọng, mà phần trên đã trình bày khá kỹ. Họ theo đuổi tính nhất quán và tính sư phạm, mong một quy tắc gọn gàng theo nguyên tắc một âm vị ứng với một cách ghi, dễ dạy dễ học, đặc biệt trong công tác xóa mù chữ. Họ cũng có cơ sở khi nói rằng trong nhiều trường hợp, cả i lẫn y đều được chấp nhận và không cách nào bị coi là sai. Đứng từ góc độ quản lý giáo dục đại trà, mong muốn ấy là chính đáng.

Tuy vậy, những lý lẽ đó đuối sức khi bước vào cung thánh. Thứ nhất, mục tiêu xóa mù chữ và hệ thống hóa tối đa không phải mục tiêu của ngôn ngữ phụng vụ. Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma hướng tới việc cử hành mầu nhiệm đức tin cách trang trọng và hiệp nhất, chứ không dạy vỡ lòng. Thứ hai, và đây là chỗ mấu chốt, chính việc thừa nhận hai cách viết đều đúng về mặt âm lại quay thành lý do mạnh nhất để giữ cách viết truyền thống. Nếu cả hy tế lẫn hi tế đều không sai, thì khi đứng trong nhà thờ, lẽ tự nhiên ta nên chọn hình thức đã gắn bó với đức tin qua bao thế hệ và đã kết tinh trong kho Thánh ca, thay vì hình thức mới mẻ còn gây tranh cãi. Khi hai con đường đều hợp lệ, lòng kính trọng đối với di sản chính là kim chỉ nam đáng tin cậy nhất.

Kết luận và đề nghị

Các phương diện trên hội tụ về một điểm. Việc nhất loạt thay chữ y bằng chữ i trong Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma rất đáng được xem xét lại. Người viết không lập luận rằng hyhi phát âm khác nhau, vì trung thực với khoa học, chúng chỉ là hai cách ghi của cùng một âm (Đoàn Thiện Thuật, 1997). Chính vì thế, việc đổi chữ không sửa được lỗi nào cả, mà chỉ phá vỡ một truyền thống. Về lịch sử, cách đổi này đi ngược mạch chữ viết mà các thừa sai Dòng Tên và Giáo hội Việt Nam đã khai sinh và vun đắp từ thế kỷ XVII (Cao Tự Thanh, 2014; Bùi Công Thuấn, 2025). Về bản chất chính tả, nó xóa đi một di tích lịch sử gắn liền với một nhóm từ Hán Việt nhất định (Nguyễn Tài Cẩn, 1998). Về văn hóa đọc, nó tạo nguy cơ đứt gãy mà ngay giới ngôn ngữ học thận trọng cũng cảnh báo (Cao Xuân Hạo, 2001). Về thẩm mỹ và tính thánh thiêng, nó làm tổn thương cảm thức đã kết tinh trong các bài Thánh ca của Kim Long và Nguyễn Duy, cũng như trong tác phẩm Đường Hy Vọng của Đấng Đáng Kính Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.

Vì những lẽ đó, người viết xin trân trọng đề nghị Ủy ban Phụng tự cân nhắc gìn giữ cách viết truyền thống với chữ y dài trong các từ Hán Việt mang tính thần học và phụng vụ, như hy tế, hy lễ, Tiệc Ly, giáo lý, tín lý, chân lý, mầu nhiệm, thế kỷ, đồng thời bảo đảm sự thống nhất với kho Thánh ca, sách kinh và các bản văn đạo đức mà cộng đoàn đang dùng. Đề nghị này không đến từ tâm lý hoài cổ, mà từ một xác tín rằng ngôn ngữ phụng vụ là một phần của di sản đức tin, cần được chăm sóc với cùng sự cẩn trọng mà ta dành cho thánh nhạc, thánh tượng và nghệ thuật thánh.

Sau cùng, xin trở lại buổi chiều Thứ Năm Tuần Thánh ở đầu bài. Khi ca đoàn cất lên của lễ hy sinh với chữ y quen thuộc, không ai khựng lại, vì con chữ và trái tim cùng hướng về một mối. Đó chính là điều ta cần gìn giữ. Tiếng Việt trong nhà thờ là thứ tiếng Việt đã được bao thế hệ nâng niu, từ những thừa sai đầu tiên học nói ở Hội An, qua ngòi bút của một vị Hồng y trong tù ngục, đến lời ca của những linh mục nhạc sĩ mà cả cộng đoàn thuộc lòng. Gìn giữ nó cho trong, cho sâu, cho đẹp, để tỏ lòng biết ơn đối với một gia sản đức tin và trao lại nguyên vẹn cho những người đến sau.

Tài liệu tham khảo

Bộ Giáo dục. (1984). Quyết định số 240/QĐ ngày 5 tháng 3 năm 1984 quy định về chính tả tiếng Việt và thuật ngữ tiếng Việt.

Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2018). Quyết định số 1989/QĐ-BGDĐT ban hành quy định chính tả trong chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

Bringhurst, R. (2004). The elements of typographic style (3rd ed.). Hartley & Marks.

Bùi Công Thuấn. (2025). Alexandre de Rhodes và những vấn đề lịch sử. https://buicongthuan.com/alexandre-de-rhodes-nhung-van-de-lich-su/

Cao Tự Thanh. (2014). I và y trong chính tả tiếng Việt. Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh.

Cao Xuân Hạo. (2001). Tiếng Việt, văn Việt, người Việt. Nhà xuất bản Trẻ.

Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. (2020). Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 5 tháng 3 năm 2020 về công tác văn thư.

Đào Tiến Thi. (2010). Bàn tiếp về chuyện i ngắn y dài. Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. https://ling.ussh.vnu.edu.vn/vi/nghien-cuu-khoa-hoc/chuong-trinh-de-tai-du-an/ban-tiep-ve-chuyen-i-ngan-y-dai-605.html

Đoàn Thiện Thuật. (1997). Ngữ âm tiếng Việt. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

Giáo phận Cần Thơ. (2024). Đường Hy Vọng – Chương 8: Hy Sinh [Trích tác phẩm của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận]. https://gpcantho.com/duong-hy-vong-chuong-8-hy-sinh/

Hoàng Phê. (1984). Vấn đề cải tiến và chuẩn hóa chính tả. Tạp chí Ngôn ngữ.

Hoàng Phê (Chủ biên). (2003). Từ điển tiếng Việt. Nhà xuất bản Đà Nẵng.

Hội đồng Giám mục Việt Nam. (2010). Kỷ niệm 50 năm ra đời bài Thánh ca Kinh Hòa Bình của linh mục nhạc sĩ Kim Long. https://hdgmvietnam.com/

Jacques, R. (2002). Portuguese pioneers of Vietnamese linguistics. Orchid Press.

Kim Long. (2007). Lời chân thành [Thánh ca dâng lễ]. Imprimatur: Giáo phận Phú Cường. Thánh Ca Việt Nam 1.

Nguyễn Đình Hòa. (2009). History of the Vietnamese language. (Tài liệu nghiên cứu ngôn ngữ học lịch sử).

Nguyễn Kim Thản. (1977). Tiếng Việt trên đường phát triển. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

Nguyễn Tài Cẩn. (1998). Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (sơ thảo). Nhà xuất bản Giáo dục.

Rayner, K., Pollatsek, A., Ashby, J., & Clifton, C. (2012). Psychology of reading (2nd ed.). Psychology Press.

Thanh Linh. (2024). Alexandre de Rhodes và chữ quốc ngữ. https://thanhlinh.net/vi/alexandre-de-rhodes-va-chu-quoc-ngu

Ủy ban Phụng tự, Hội đồng Giám mục Việt Nam. (2026). Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma.

Zajonc, R. B. (1968). Attitudinal effects of mere exposure. Journal of Personality and Social Psychology, 9(2, Pt. 2), 1–27.



Tác giả: Nguyên Tú & Toàn Thiện