Những lời này, được gán cho bài giảng của Thánh Gioan Kim
Khẩu về đoạn Tin Mừng theo Thánh Mt 25:31–46, mời gọi chúng ta suy gẫm một
thách đố lớn: hãy nhận ra Đức Kitô nơi tha nhân như chúng ta nhận ra Ngài trong
Bí tích Thánh Thể. Đáp lại lời mời gọi ấy đòi hỏi đức tin, bởi vì trong cả hai
trường hợp, vì bề ngoài thường không nói hết được sự thật (toàn bộ câu chuyện).
Tuy nhiên, như câu ngạn ngữ thường được nhắc đến: bìa sách không nhất thiết
phản ánh nội dung bên trong. Sự cần thiết của cách tiếp cận này đã được Kinh
Thánh minh chứng. Chúng ta đọc thấy trong sách Châm ngôn chương 14 câu 31: “Kẻ nào áp bức người nghèo là xúc phạm đến
Đấng Tạo Hóa của họ; còn ai thực hành việc bác ái đối với người túng thiếu thì
tôn vinh Thiên Chúa.” Còn trong sách Đệ Nhị Luật chương 15 câu 11, Thiên
Chúa truyền dạy: “Ngươi phải rộng tay với
anh em mình, với những kẻ nghèo khổ và túng thiếu trong đất nước ngươi.”
Chúng ta cũng đọc thấy trong sách Huấn Ca chương 21 câu 6 và
sách Gióp chương 36 câu 15 rằng lời cầu nguyện của người nghèo có hiệu lực trên
trời, và người nghèo ở thế gian này có cơ hội lớn để nên thánh theo cách mà
nhiều người khác không có. Vì lý do đó, có nhiều chỗ trong Kinh Thánh khẳng
định rằng những người nghèo công chính sẽ được no thỏa trên trời, và đỉnh cao
là lời hứa của Đức Kitô trong Tin Mừng Mát-thêu 5:3: ‘Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.’
Yếu tố quan trọng ở đây là sự công chính, bởi vì Thánh
Phaolô cũng lên án những ai cứ bám lấy thân phận cho mình là nạn nhân mà không
chịu làm việc như trong 2 Thê-xa-lô-ni-ca 3, 10, khi ngài viết: ‘Ai không chịu làm việc thì đừng ăn.’ Lời
của Tông đồ ở đây phản chiếu tác giả sách Huấn Ca 25:3–4, nơi ông viết rằng tâm
hồn ông xao xuyến trước cuộc sống của ‘người
nghèo mà kiêu ngạo,’ lên án những kẻ tự hào khi sống nhờ vào người khác.
Nhưng vượt lên trên điều này, chúng ta còn thấy một suy xét khác trong giáo
huấn của Đức Kitô trong Tân Ước. Trong Tin Mừng Mát-thêu 26:11, Chúa Giêsu nói
với các Tông đồ: ‘Người nghèo thì lúc nào
cũng có với anh em; nhưng Thầy thì không phải lúc nào cũng có.’ Thoạt nhìn,
câu này có vẻ khó hiểu, nhưng xét đến những người mà Ngài đang nói với, thì lại
hoàn toàn hợp lý. Những người được Ngài nhắn nhủ — chính là các Tông đồ, những
người sau này sẽ hướng dẫn Hội Thánh sau khi Ngài phục sinh và lên trời — đang
được dạy về những ưu tiên mà Hội Thánh phải giữ sau khi thân xác Đức Kitô lên
trời.
Chúng ta thấy sự xác nhận điều này trong bài giảng thứ 10
của Thánh Augustinô: ‘Vì Ngài đã kêu gọi
chúng con yêu mến Ngài, và yêu thương tha nhân trong Ngài. Đây chính là toàn bộ
mục đích của Lề Luật và các Ngôn Sứ.’ Ở đây, vị thánh vừa xem xét cả khía
cạnh thiêng liêng lẫn khía cạnh trần thế trong sứ mạng của Hội Thánh. Nhưng
quan trọng là ngài đặt khía cạnh trần thế vào đúng vị trí của nó: phát xuất từ
khía cạnh thiêng liêng, và được thực hiện trong mối tương quan với khía cạnh
thiêng liêng ấy.
Sự minh định này là rất quan trọng, bởi vì đặc biệt là trong
thế kỷ vừa qua, người ta thấy trong một số trào lưu tư tưởng chính thống có sự
nhấn mạnh đáng kể vào các công việc mang tính thương xót về phần xác (như cho
ăn, cho uống, chăm sóc bệnh tật), theo cách làm giảm nhẹ khía cạnh thiêng
liêng, khiến nó chỉ còn như một nhãn hiệu bề ngoài, thay vì là mục tiêu tối hậu
vốn dĩ của nó. Đức Giáo hoàng Piô XI đã giải thích rõ ràng chống lại quan niệm
này trong thông điệp nổi tiếng Quadragesimo
Anno: “Chắc chắn Hội Thánh không được
trao sứ mạng để dẫn con người đến một hạnh phúc chóng qua và hư nát, nhưng là
đến hạnh phúc vĩnh cửu.”
Trong bối cảnh này, khẩu hiệu muôn đời của Hội Thánh salus animarum lex suprema (ơn cứu rỗi
các linh hồn là luật tối thượng), vốn xuất hiện ở trang cuối của Bộ Giáo Luật,
mang một ý nghĩa mới. Nguyên tắc này đã là nền tảng của luật Hội Thánh qua
nhiều thế kỷ, và thực chất là một sự điều chỉnh từ một nguyên lý trong luật La
Mã mà Cicero đã trích dẫn trong tác phẩm De Legibus (Về các lề luật): Salus populi lex suprema (hạnh phúc của
con người là mục tiêu tối thượng). Quan niệm Công giáo thật đáng chú ý chính vì
sự đảo ngược giả định tự nhiên này. Vì đối với người Công giáo, chính phúc lợi
thiêng liêng phải được đặt trước phúc lợi thể xác. Hai điều này không loại trừ
nhau. Nhưng thay vào đó chúng lại tượng
trưng cho một chuỗi ưu tiên có trật tự, hướng đến thiện ích tối hậu cho mọi
người, mọi thời và mọi nơi.
Liên quan đến lĩnh vực quản trị chính trị mà Cicero vốn quan
tâm, Kinh Thánh cũng làm rõ giáo huấn của mình về những bổn phận cấp thiết mà
một nhà lãnh đạo phải chu toàn. Chẳng hạn, trong sách ngôn sứ Giêrêmia 22:13–19
cho biết rằng vị vua ‘bắt anh em mình lao
nhọc vô ích, rồi lại không trả công cho họ’ thì sẽ mang tiếng xấu lâu dài,
và sẽ có một nơi chôn cất ô nhục ‘bên
ngoài cổng thành Giêrusalem’ — một ám chỉ mà Thánh Giêrônimô giải thích
trong chú giải của ngài trong thư thứ 22 về sách này là nói đến việc vị vua
trần thế mất chỗ trong Nước Trời. Ngược lại, trong cùng đoạn văn, Ngôn Sứ cho
ta biết người nào thực thi công lý với
người nghèo thì làm một việc tốt cho chính mình cũng như cho Thiên Chúa. Ngôn
sứ Giêrêmia viết rằng vị vua công chính ‘ban
cho mỗi người phần công bằng của họ, và lấy thế làm đủ,’ tiếp tục rằng
trước mặt Chúa, ‘thật là tốt cho ông khi
ông bênh vực kẻ cô thế và người nghèo khổ.”
Liên quan đến những người có lẽ cần đến cách tiếp cận này,
ngôn sứ Đanien cũng đồng tình. Trong sách Đanien 4:24, ngôn sứ khuyên vua
Nabucôđônôsor rằng ‘bằng việc bố thí,
bằng lòng thương xót người nghèo,’ nhà vua có thể ‘chuộc lại lỗi lầm và sai trái’ trước mặt Chúa. Trong một lời khuyên
khác dành cho các nhà lãnh đạo trong Cựu Ước, chúng ta cũng thấy cảnh báo rùng
rợn của tác giả thánh trong sách Châm ngôn 21:13: kẻ nào ‘bịt tai trước tiếng kêu của người nghèo’ thì một ngày kia chính hắn
sẽ kêu khóc mà không được nghe.
Dante Alighieri, nhà thơ thiên tài, đã đưa sự thật của hình
ảnh này vào tác phẩm Hỏa Ngục (the
Inferno) bằng một phong cách độc đáo không thể bắt chước. Dante đặt những
kẻ bóc lột người nghèo — như cho vay nặng lãi — vào vòng thứ bảy của địa ngục,
nơi những kẻ bạo lực bị trừng phạt. Nhà thơ dường như nhất trí với tác giả Kinh
Thánh, người đã tuyên bố trong Huấn Ca 36:25 rằng ‘bánh của người nghèo là sự sống của người nghèo; cướp mất nó là giết
người,’ và Dante lên án những kẻ này vì đã phạm bạo lực chống lại người
nghèo.”
Sự phản bội của những linh hồn tàn bạo này càng trở nên
khủng khiếp hơn khi người ta xét đến những mục tiêu hèn kém đã trở thành ‘bàn
thờ’ nơi người nghèo, người lao động, và đồng bào của những kẻ phạm tội này bị
hy sinh — tất cả chỉ vì những lời hứa chóng qua như của cải, quyền lực và vinh
quang trần thế. Hình phạt dành cho một linh hồn bị kết án trong vòng thứ bảy
của địa ngục tượng trưng cho số phận chung của cả nhóm người này. Bị bao phủ
trong kim loại nóng chảy: vàng trên đầu, bạc và đồng trên thân, sắt chạy dọc
xuống chân cho đến gần hết, ngoại trừ một bàn chân bằng đất sét bụi bặm, hắn
đứng với toàn bộ sức nặng dồn lên bàn chân ấy — biểu tượng cho giá trị rỗng
tuếch của những tham vọng hão huyền. Đúng như lời cảnh báo của Tác giả Thánh
Kinh rằng kẻ nào lạm dụng người nghèo sẽ kêu khóc mà không được nghe, từ thân
thể hắn không ngừng tuôn ra những giọt nước mắt bằng kim loại quý. Những giọt
nước mắt này — quý giá trong mắt thế gian nhưng vô giá trị trước mặt Thiên Chúa
— chảy xuống một khe vực dưới thân thể bị tra tấn, rồi nhập vào dòng sông Styx,
biên giới của địa ngục.
Tuy nhiên, hình ảnh mạnh mẽ này không bắt nguồn từ Dante.
Thực ra, nó chỉ là sự tái trình bày một nguyên mẫu trong Cựu Ước, xuất hiện
trong sách Đanien 2:31–35. Bối cảnh lần xuất hiện đầu tiên của hình ảnh này là
trong một giấc mơ mà vua Nabucôđônôsor trải qua, khiến ông bối rối khi tỉnh
dậy. Nhà vua, bị cuốn hút nhưng không hiểu được ý nghĩa của hình ảnh, đã tìm
khắp vương quốc để có lời giải thích. Khi gặp Đanien, ông đã được soi sáng,
nhưng lại không ngay lập tức nghe theo lời khuyên của ngôn sứ. Bị trục xuất
khỏi vương quốc, nhà vua đã sống như một con thú hoang bên ngoài thành phố suốt
bảy năm, trước khi ăn năn trước mặt Chúa và được phục hồi ngai vàng như một con
người đã được biến đổi.
Giống như vua Nabucôđônôsor, chúng ta cũng có thể được biến
đổi qua những thử thách. Thánh Phaolô dạy chính xác điều này, khi ngài công bố
trong 2 Côrintô 8:1–5 rằng các thánh của Hội Thánh tại Macedonia, những người
đã trải qua thử thách lớn lao, ‘đã vui
mừng trong đó, dù cảnh nghèo nàn của họ thật khốn cùng, và… vương miện vinh
quang của tất cả là lòng quảng đại phong phú nơi họ.’ Vài câu sau, Thánh
Tông đồ tiếp tục rằng việc noi gương các thánh Macedonia chính là ‘lời khuyên’ của ngài dành cho Hội Thánh
tại Côrintô, và thực sự vẫn là lời khuyên cho chúng ta hôm nay. Bởi vì, cho dù
chúng ta đang ở trong cảnh nghèo khó hay ở vị trí có thể giúp đỡ những người
nghèo, chúng ta đều có một cơ hội phúc lành để thực hiện công việc của Đức Kitô
trong thế giới này — một cơ hội thật vô giá, bởi như Thánh Gioan Kim Khẩu tóm
tắt phần kết luận trong Bài giảng 50 về Thánh Mátthêu: ‘Điều bạn trao cho người nghèo được cất giữ an toàn trên trời, và là
nguồn cậy trông lớn lao trước mặt Thiên Chúa.”
Tác giả: by Frederick Woodward
Nguồn: https://www.hprweb.com/2026/02/the-christian-responsibility-for-the-poor-in-the-scriptures/
Mary paulien lược dịch
