❓Thưa cha, có phải sau khi học tại các trường Worth ở Sussex và Downside ở Somerset, cha đã đến Tu viện Blackfriars, thuộc Dòng Đa Minh tại Oxford từ nhiều năm trước rồi không?

Vâng, nơi đây có một nền giáo dục tôn giáo, theo nghĩa là bạn sống trong sự hiện diện của Chúa và có các thánh là bạn hữu. Nền giáo dục không hề hà khắc hay ra vẻ đạo đức, rất thoải mái, nhưng đậm nét Công giáo. Phải thú thật là hồi đi học, tôi là một học sinh ngỗ nghịch, thường thích tới quán rượu, hút thuốc, và từng suýt bị đuổi học vì đã đọc cuốn Lady Chatterley’s Lover trong giờ Chầu Thánh Thể. Khi tôi rời trường, mấy người bạn ngoài Công giáo bảo tôi rằng, “Những gì cậu tin không phải là sự thật đâu,” và rồi trong đầu tôi cứ lẩn quẩn với câu hỏi, “Phải vậy không?”. Thế nên tôi mới tìm đến một Dòng tu có khẩu hiệu ‘Veritas – chân lý’. Tôi đến Blackfriars lần đầu tiên vào năm 1967, hai năm sau khi tôi đã gia nhập Dòng. Tôi cũng từng có thời gian ở London, Paris, Rome, San Francisco; nói chung là đã sống ở nhiều nơi khác. Sự giản dị ở Blackfriars đã thu hút tôi. Chúng tôi sống rất đơn giản, chỉ là những người anh em mà thôi.

❓Thế còn chuyện bỏ hút thuốc, bỏ uống rượu và vui chơi thì sao ạ?

Tôi không nghĩ là chúng tôi đã từ bỏ việc vui chơi hay né tránh những thú vui cuộc sống. Trong đời sống Đa Minh, chúng tôi nhận ra, như từ 800 năm nay rồi, rằng chúng tôi vẫn là người trần mắt thịt. Thánh Đa Minh đã thành lập Dòng Giảng Thuyết tại một quán rượu, và hầu hết những phép lạ đầu tiên của ngài là làm ra rượu. Chúng tôi có một cuộc sống làm người tốt đẹp, hạnh phúc, và chúng tôi cũng tin rằng hạnh phúc viên mãn mà chúng tôi tìm kiếm là ở trong Thiên Chúa.


“Điều thực sự dưỡng nuôi tôi suốt cuộc đời là tình bạn.”


❓Khi nào thì cha nhận ra ơn gọi của mình?

Ngay từ nhỏ tôi đã nhận ra phải có ý nghĩa sâu xa để sống cuộc đời mình. Tôi có một người bác rất tuyệt vời, là một tu sĩ Biển Đức. Bác là một tuyên úy đầy quả cảm trong Thế chiến thứ nhất, đêm nào bác ấy cũng đi vào Vùng Đất Chết để tìm kiếm những người hấp hối. Viên sĩ quan chỉ huy bảo bác ấy không được đi, vì quá nguy hiểm. Bác bị trúng đạn, mất một con mắt và cụt gần hết các ngón tay. Vậy mà hằng đêm bác ấy vẫn đi tìm những người bị thương, vẫn sống một cuộc đời vui tươi và đầy sức sống. Từ đó, tôi nhận ra tôn giáo chính là sống niềm vui sâu xa.

❓Phải chăng cha luôn giữ được niềm vui này dù làm bất cứ điều gì?

Bạn chỉ thực sự sống nếu bạn biết vui, đồng thời cũng nếm trải sự đau khổ của thế giới. Tôi đã chứng kiến đau khổ ở Syria, Iraq, Rwanda, Angola, Algeria. Tôi đã nếm trải cuộc sống ở những nơi đầy đau khổ trên thế giới, và chính điều đó đã đào sâu tâm hồn để biết niềm vui sâu hơn. Tôi rất thích đoạn sách ngôn sứ Êdêkien : “Ta sẽ lấy khỏi  ngươi quả tim bằng đá và ban tặng cho ngươi một quả tim bằng thịt.” Nếu bạn mang quả tim con người thực sự, bạn sẽ biết buồn, biết được nỗi đau của thế giới – chẳng hạn nỗi đau mà người dân ở Gaza đang phải hứng chịu hiện nay – và đồng thời bạn cũng sẽ biết vui.

❓Cha từng là Tổng quyền Dòng Giảng Thuyết, và giờ đây với tư cách là một Hồng y, cố vấn cho Giáo hoàng, cha hẳn đã nhận được nhiều vinh dự. Làm thế nào cha kết hợp đức tin cá nhân với những vinh dự này?

Bạn không thể tự cho mình tốt hơn chỉ vì bạn có bằng tiến sĩ danh dự; niềm vui đời tôi là được ở bên mọi người lúc họ vui cũng như khi họ buồn. Và rồi, trong khoảnh khắc đó, bạn mới nhận ra mình nói được gì hoặc nên làm gì. Đức Phanxicô thật tuyệt vời vì ngài là con người của sự gặp gỡ. Ngài thích hiện diện với những người gặp khó khăn và đau khổ. Sau ca phẫu thuật ung thư khiến tôi phải tái tạo lại xương hàm, lần tiếp theo tôi gặp ngài là cùng với hai, ba trăm người khác. Ngài đến gặp tôi, và chỉ kề trán vào trán tôi khoảng hai mươi giây. Đấy là một bí mật. Gặp gỡ con người. Chia sẻ cuộc sống của họ. Dù cuộc sống của họ khó khăn đến mấy, họ cũng sẽ cho bạn rất nhiều. Họ cho bạn hy vọng. Họ cho bạn tình bằng hữu. Điều thực sự nuôi dưỡng tôi suốt đời là tình bằng hữu.

❓Làm Tổng quyền Dòng Đa Minh có phải là một phận vụ lớn lao không?

Đúng vậy, tôi phải đi lại tám tháng mỗi năm. Trước hết, bạn phải hiện diện anh chị em của mình: ăn uống cùng họ, thinh lặng với họ, cười vui với họ, chia sẻ cuộc sống với họ, học hỏi từ họ, và cũng mong rằng có thể dạy họ điều gì đó. Dòng chúng tôi hiện diện ở 107 quốc gia, và tôi phải đi thăm mỗi nơi ít nhất hai lần trong nhiệm kỳ của mình. Đó đúng là một trải nghiệm học hỏi lớn lao: tôi đã học được cách hy vọng.

❓Hy vọng có nghĩa là gì?

Hy vọng là tin rằng, cuối cùng thì sự sống sẽ chiến thắng cái chết và tình yêu sẽ chiến thắng hận thù, vì vậy chúng ta không bao giờ được bỏ cuộc. Đối với tôi, là một Kitô hữu thì bí tích vĩ đại mang lại niềm hy vọng chính là Thánh lễ, là bí tích Thánh Thể, mà Chúa Giêsu đã ban cho các môn đệ vào lúc tưởng như không còn tương lai. Khi mọi thứ như thể đã chấm dứt, họ chạy trốn và chối bỏ Thầy, thì trong khoảnh khắc tăm tối nhất ấy, Người nói, “Đây là mình Thầy, hy sinh vì anh em.” Một hành động quảng đại phi thường. Khi chúng ta cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta nhớ lại món quà ấy đã đến trong khoảnh khắc tăm tối nhất như thế nào. Và tôi biết là trong đời mình, khi phải trải qua những thời khắc khó khăn thường cũng là lúc tôi nhận được những ân ban lớn lao.

❓Cha có chú trọng nhiều đến bác ái, và lòng biết ơn, việc giáo dục, cầu nguyện không?

Dĩ nhiên rồi. Bác ái nghĩa là tình yêu – Caritas. Tôi đã dành phần lớn cuộc đời tham gia vào việc giáo dục. Giáo dục có nghĩa là bạn không bao giờ từ bỏ nỗ lực hiểu biết. Con người được tạo dựng để tìm kiếm sự hiểu biết. Tôi đã học được điều này một cách sâu sắc ở Trung Đông. Ở phía bắc Iraq, đồng bằng Mosul, Nineveh, chúng tôi có nhiều trường học do anh chị em Đa Minh thành lập, và ở đó chúng tôi có các bạn trẻ Islam và Kitô hữu học cùng nhau. Chúng tôi nói với họ, “Hãy tiếp tục học hỏi. Hãy tiếp tục đi tìm sự hiểu biết. Hãy tiếp tục. Đừng đầu hàng tư tưởng cực đoan.” Khẩu hiệu tại trường đại học của chúng tôi ở Baghdad là “Ở đây không có câu hỏi nào bị cấm”. Tôi thấy thật thú vị khi ở bên những người trẻ và giúp họ tiếp tục tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống của mình, không chỉ trong tôn giáo mà cả trong nghệ thuật. Nếu họ tìm thấy ý nghĩa sống thì đó là một món quà. Thường thì cánh cửa sẽ mở ra khi họ biết yêu thương. Mỗi khi bạn yêu thương ai đó thì cánh cửa dẫn đến ý nghĩa cuộc sống của bạn sẽ mở ra.

❓Cha được biết đến trên khắp thế giới như một nhà giảng thuyết tài ba. Giảng thuyết có nghĩa là gì?

Để giảng thuyết, bạn phải lắng nghe để khám phá điều gì cần được trao cho người này vào khoảnh khắc đó. Bạn không được biết trước quá nhiều. Mới đây tôi có đến Ljubljana, Slovenia. Chúng tôi đã có một buổi gặp mặt với cả ngàn người, chủ yếu là những người trẻ tuổi, có nhiều sáng tạo, các nghệ sĩ và chính trị gia, những người đang có dự án rà phá bom mìn nữa. Họ muốn biết trước tôi sẽ nói gì và muốn có một buổi diễn tập, nhưng tôi nói, “Làm sao tôi có thể biết mình phải nói gì khi chưa gặp họ?” Bạn phải trực tiếp gặp mọi người và lắng nghe họ. Chính trong cuộc trò chuyện với người khác mà bạn biết được mình phải nói gì. Dự định tiếp theo của tôi – không phải ngay lúc này – là đến Kiev, Ukraine, và sau đó là Kharkiv ở biên giới Nga. Tôi không biết mình sẽ tìm thấy gì ở đó.

“Bạn gặp gỡ người khác như gặp một người bạn đang đi tìm ý nghĩa, vì trong sâu thẳm hiện hữu, mỗi người là một kẻ đi tìm.”

❓Thưa cha, giảng thuyết thực sự là gì?

Giảng thuyết là một niềm vui được chia sẻ. Bạn chia sẻ niềm vui của Tin Mừng, và niềm vui ấy hơi khác với từng người. Bạn đọc Lời Chúa, và đó luôn là một tin vui. Thỉnh thoảng bạn đọc Kinh Thánh và thấy có vẻ hơi u ám. Có những đoạn lại khá bạo lực. Thế nên, bạn luôn phải tìm hiểu, “Niềm vui ở đây là gì?” Theo kinh nghiệm của tôi, bình thường thì ngay trong hoàn cảnh đau khổ nhất, chúng ta vẫn có thể cùng nhau tìm thấy niềm vui.

❓Cha có mang đến cho người khác khoảnh khắc vui vẻ nào không?

Tôi cùng họ khám phá điều đó. Giảng thuyết không chỉ là nói điều gì đó với họ, mà là cùng họ trò chuyện và khám phá điều gì là chân, thiện, mỹ. Một trong những người bạn tốt của tôi, anh Brian Pierce, một tu sĩ Đa Minh người Mỹ, mắc bệnh Alzheimer khi mới 60 tuổi. Khi bề trên tu viện nói với anh ấy, “Anh Brian, tôi e là đã đến lúc anh cần sự hỗ trợ từ các bác sĩ.” Brian đáp lại, “Vâng, thật tuyệt vời. Tôi sẽ đến nhà hưu và hoàn tất tác vụ cuối cùng của mình.” Quả là một hình ảnh đẹp khi anh ấy coi việc về nhà hưu như là cách để cho đi điều gì đó. Nếu muốn trao cho ai cái gì đó, bạn phải học cách nhận lại từ họ. Bạn phải tìm thấy niềm vui ở họ. Bạn phải biết vui cùng với mọi người.

❓Trong một thế giới ngày càng tục hóa, cha thúc đẩy người khác đến với đức tin bằng cách nào?

Ai cũng đều mang trong mình hạt giống đức tin nhỏ bé. Ai cũng đều tin vào điều gì đó, vậy nên bạn phải bắt đầu từ điều họ tin. Khi làm vườn, nếu thấy một cây con yếu ớt, bạn cần cho nó chút ánh sáng và nước. Bạn thúc nó phát triển. Nếu thấy một người có niềm đam mê âm nhạc, bạn hãy giúp họ làm một cuộc phiêu lưu qua cái đẹp và tìm ra điều đẹp nhất, chính là Thiên Chúa. Nếu là cuộc phiêu lưu qua sự tò mò hiếu tri, bạn hãy đồng hành cùng họ khi họ tìm kiếm. Tất cả chúng ta đều là những kẻ đi tìm. Mỗi khi gặp gỡ ai đó, bạn sẽ muốn biết, “Bạn đang tìm kiếm điều gì?” “Tôi có thể học được gì từ bạn?” “Bạn có thể dạy tôi điều gì?” và “Tôi có thể dạy bạn điều gì?”

❓Cha có thể cho ví dụ về điều này không?

Tôi đã có một năm sống với một tu sĩ Đa Minh tuyệt vời tên là Marie-Dominique Chenu, một trong những bậc thầy vĩ đại của thế kỷ 20. Lúc đó ngài đã 80 tuổi, độ tuổi mà tôi cho là đã già rồi. Vậy mà tối nào cha ấy cũng ra ngoài gặp gỡ các công nhân, nghệ sĩ, học giả, chính trị gia. Thường chúng tôi gặp được cha lúc 10 giờ tối ở nhà ăn, và cha sẽ hỏi: “hôm nay anh học được gì?” và “đây là những gì tôi học được hôm nay.” Bạn gặp gỡ người khác như gặp một người bạn đang đi tìm ý nghĩa, vì trong sâu thẳm hiện hữu, mỗi người là một kẻ đi tìm.”

❓Đâu là sự khác biệt giữa tôn giáo và niềm tin?

Ai cũng đều có niềm tin. Có thể là tin vào sức mạnh tình yêu của họ dành cho ai đó. Có thể là tin vào âm nhạc; khi đối mặt với cái chết, họ muốn nghe nhạc. Họ có thể tin đủ thứ. Tôn giáo mang lại một khuôn mẫu và hình hài cho niềm tin của bạn, một cuộc gặp gỡ với siêu việt. Một người bạn của tôi tên là John Rae, hiệu trưởng một trường học nổi tiếng – Westminster, ông vẫn chưa thể xác quyết được mình có tin hay không. Khi ông nghỉ hưu, ông muốn được gặp sáu người vô thần và sáu Kitô hữu, và rồi ông hỏi họ, “Giờ đây, ai trong các bạn sẽ thuyết phục được tôi?”. Chúng tôi gặp nhau, trở thành bạn bè, và cuộc tranh luận luôn dẫn tới điều này: Ông yêu vợ mình, ông yêu các con mình. Liệu tình yêu ấy chỉ là một thứ xúc cảm? Hay là một điều gì đó siêu việt, một cửa ngõ dẫn tới vĩnh cửu? Ngày nọ, ông gọi cho tôi và nói, “Timothy, tôi đang hấp hối. Chúng ta có thể gặp nhau lần cuối không?” Tôi đến thăm ông chiều hôm đó, ông nói với tôi, “Chúng ta hãy nói lại chuyện đó. Bản chất của tình yêu là gì? Có phải tình yêu là cửa ngõ dẫn tới siêu việt, vĩnh cửu không? Tình yêu có giúp bạn vượt lên trên mọi thứ không? Hay nó chỉ là một dạng cảm xúc trong não?” Hầu hết mọi người từ trong sâu thẳm đều biết rằng khi họ yêu, điều gì đó phi thường đang xảy ra.

❓Tình yêu là một từ phức tạp. Chẳng phải đôi lúc trong đời cũng có u sầu, nỗi đau cuộc đời đó sao?

Bạn luôn phải trải qua điều đó cùng với những người khác. Chia sẻ những khoảnh khắc khó khăn cũng là lúc bạn chia sẻ nỗi đau. Nhưng bạn được dẫn đi xa hơn, và lúc đó bạn mới có thể chia sẻ niềm vui với người khác. Thường thì chúng ta thấy xấu hổ khi ta đau buồn, u sầu hoặc trầm cảm; chúng ta không nên xấu hổ. Chúng ta phải thành thật. Phải dám bước ra ánh sáng và nói: “Đây là tôi. Đây là con người thật của tôi.” Một tu sĩ Đa Minh người Pháp sống vào thế kỷ 19 đã nói: “Bạn bè là người khiến bạn có thể ở bên cạnh mà không thấy xấu hổ.” Tôi là tôi, như tôi đang là.

❓Là một tu sĩ, cha từ bỏ nhiều vật chất và chọn cách sống không sở hữu gì. Cha vẫn cảm thấy ổn chứ?

Nếu bạn có bạn bè – mà tình bạn chính là bí quyết của đời sống Đa Minh – thì sao bạn có thể lạc lối được? Lúc tôi mắc bệnh ung thư và băn khoăn không biết sẽ sống thêm được bao lâu, tôi đã nhận ra rằng con người của mình được định hình rất nhiều từ mọi tương quan bằng hữu mà tôi đã có. Tất cả những người tôi yêu mến, và những người đã yêu thương tôi; tôi chính là hoa trái của tất cả những điều đó. Nếu bạn muốn gặp gỡ Thiên Chúa, hãy kết bạn.

❓Ngài có nỗi sợ nào không?

Thật khó nói. Tôi không cho là mình sợ. Tôi chỉ tiếc vì thấy rằng còn rất nhiều điều thú vị muốn làm, còn nhiều người mình muốn kết giao hơn. Lúc đó, tôi vừa đồng ý cùng viết một cuốn sách với anh Łukasz Popko, một tu sĩ Đa Minh người Ba Lan trẻ hơn tôi nửa tuổi mà lại thông minh gấp đôi tôi; anh thông thạo tận mười hai thứ tiếng. Chúng tôi thống nhất sẽ viết cuốn sách này, thế rồi tôi bị chẩn đoán mắc bệnh ung thư. Khi tôi nằm liệt giường suốt năm tuần trong bệnh viện, điều trợ lực tôi rất nhiều chính là có được một dự án mà tôi phải làm cùng anh Łukasz. Nhờ nó, tôi đã không “co chân” – như người Anh chúng tôi vẫn nói – mà chết, vì tôi biết mình còn một việc phải làm. Tôi phải hoàn thành dự án này. Rốt cuộc thì tôi đã không chết (ngài cười).

❓Từ một tu sĩ Đa Minh, mặc chiếc áo dòng trắng, một người anh em, giờ cha đã trở thành Hồng y. Chuyện gì đã xảy ra vậy?

Điều ấy quả là quá bất ngờ. Các anh em ở đây đã biết chuyện đó trước cả tôi. Khi ấy, tôi đang ở Rome dự Thượng Hội đồng, và lúc nghỉ trưa, tôi kiểm tra email như thói quen thường làm, và tôi ngạc nhiên không hiểu sao mình nhận được tận 43 email chỉ trong nửa giờ. Tôi nhận được tin từ bề trên tu viện Blackfriars ở Oxford rằng Đức Giáo hoàng Phanxicô đã công bố tôi sẽ là Hồng y, nhưng tôi vẫn là một người anh em giữa cộng đoàn. Tôi vẫn chu toàn công tác trong lịch phân công của cộng đoàn. Tôi vẫn rửa chén bình thường. Tôi vẫn có những việc phải làm như đi mua đồ. Còn có những chỗ trong tu viện mà tôi phải dọn dẹp. Tôi không muốn trở thành gì khác hơn là một người anh em.

Video clip  ĐHY Timothy Radcliffe, O.P tuyên thệ trong mật nghị bầu Giáo hoàng Lêô XIV


“Mật nghị Hồng y là một trải nghiệm ý nghĩa. Chúng ta phải trân trọng những khoảnh khắc của sự thay đổi này.”


❓Thưa cha, việc trở thành Hồng y có ý nghĩa gì?

Nó có nghĩa là khi Đức Giáo hoàng cần bạn, muốn thảo luận điều gì đó, thì bạn đến gặp ngài. Việc đó cũng trao cho tôi một vai trò trong việc bầu vị Giáo hoàng mới. Mật nghị Hồng y là một trải nghiệm ý nghĩa. Trong bộ phim The Conclave, chi tiết thì chính xác, nhưng bầu khí thì lại khác hẳn. Chúng tôi hoàn toàn cảm thấy mình phải đưa ra một sự lựa chọn đúng đắn, nhưng đồng thời chúng tôi cũng ở đó với một tâm trạng vui vẻ, bông đùa và cười nói cùng nhau. Một trong những điều tuyệt vời là chúng tôi đã bị cắt đứt hoàn toàn khỏi mạng xã hội trong ba ngày. Không wifi, không email, không tin tức. Thoạt tiên tôi nghĩ điều đó thật khủng khiếp, vì tôi thích xem tin tức để biết chuyện gì đang xảy ra, nhưng hóa ra nó lại là một sự giải thoát, một cuộc thanh lọc các giác quan. Chúng tôi đã ở bên nhau một cách sâu xa hơn, bởi thay vì bị cám dỗ nhìn vào iPhone hay iPad, chúng tôi chỉ đơn giản là ở đó với nhau, vì nhau.

❓Cha đã nói điều gì?

Dĩ nhiên tôi không thể kể cho bạn chi tiết, nhưng trước khi Mật nghị diễn ra, chúng tôi đã cùng nhau tìm hiểu để nhận ra những thách thức mà Giáo hội đang phải đối mặt. Sau đó, thường là tại bàn ăn, chúng tôi nói nhỏ với nhau về ấn tượng của mình đối với từng ứng viên và xem ai sẽ là người phù hợp. Có rất nhiều thách thức, ngay cả khi số lượng người Công giáo trên toàn thế giới vẫn đang tăng lên. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã chỉ ra thách thức lớn nhất, đó là làm sao để mọi người đều được chào đón. Ngài nhắc đi nhắc lại nhiều lần, “Todos, todos, todos.” “Tutti, tutti, tutti.” “Tất cả, tất cả, tất cả.” Ai cũng phải được chào đón. Bạn làm gì, bạn là ai, hay bạn có xu hướng tính dục ra sao đều không quan trọng. Đây là nhà của bạn, và nếu bạn đã ở nhà này thì tất nhiên chúng tôi phải lắng nghe bạn. Thách thức lớn mà chúng ta phải đối mặt là học cách thực sự lắng nghe nhau trong kiên nhẫn và khiêm tốn. Đôi khi trong quá khứ, các linh mục đã quá độc đoán, quá xa cách, và tự đặt mình đứng trên dân Chúa. Điều mà Đức Giáo hoàng Phanxicô đã thấy, một cách hoàn toàn chính xác, và Đức Giáo hoàng Lêô cũng đang thấy, đó là chúng ta đều thuộc về nhau. Chúng ta là một phần của nhau. Chúng ta phải cởi mở với nhau khi chúng ta lắng nghe, học hỏi và cùng nhau đồng hành.

❓Có hơn một trăm vị đã thảo luận về điều đó sao?

Đúng vậy. Tổng cộng chúng tôi là một trăm ba mươi ba người. Chúng tôi đã ở đó chín ngày, để thảo luận trước khi Mật nghị diễn ra. Nhưng hầu hết các Hồng y cũng từng tham gia các Thượng Hội đồng, cứ hai năm thì có một kỳ kéo dài một tháng. Chúng tôi biết nhau và đã suy tư rất nhiều về cách vượt qua thứ mà Đức Phanxicô gọi là thứ giáo sĩ lạm quyền (clericalism).

❓Các Đức Giáo hoàng rất khác nhau, giữa vị này với vị khác, như giữa Đức Bênêđictô và Đức Phanxicô. Vậy tiêu chí để ai đó trở thành Giáo hoàng là gì?

Mỗi lần Mật nghị Hồng y được triệu tập thì sẽ có những nhu cầu khác nhau. Đức Gioan Phaolô II, một người có trí tuệ và học thức uyên bác, đã thấy nhu cầu lớn nhất thời ấy là phải tiếp cận với giới trẻ. Đó là một trong những ưu tiên hàng đầu của ngài, và ngài đã thành công rực rỡ. Đức Bênêđictô, một nhà thần học vĩ đại, nhận ra lúc ấy chúng ta đang đối mặt với chủ nghĩa thế tục, nên cần phải cho thấy rằng đức tin là thú vị và khả tín về mặt lí trí trong hành trình con người tìm kiếm ý nghĩa. Đó là một ưu tiên cần thiết lúc bấy giờ, và đến nay vẫn vậy. Với Đức Phanxicô, ưu tiên của ngài là: Hãy mở cửa, mở cả cửa sổ, để không khí trong lành tràn vào nhà. Hãy gặp gỡ nhau. Hãy dám bộc lộ những tổn thương với nhau. Còn với Đức Lêô, đây là một thời điểm mới, và chúng ta phải tiếp tục những gì Đức Phanxicô đã làm, tuy một số người vẫn còn có chút e ngại, thế nên cần phải quy tụ họ và làm cho họ thấy như là đang ở nhà mình vậy.

❓Cha có cảm thấy sự kiện Mật nghị Hồng y là một cảnh tượng vĩ đại, được cả thế giới dõi theo không?

Trải nghiệm hết sức kỳ diệu của tôi là được đứng ngay cạnh cái lò đốt các lá phiếu để tạo khói, và khi chúng tôi cho chất tạo ra trắng vào, tôi có thể nghe thấy tiếng reo hò vang dội từ quảng trường. Họ đã yêu mến ngài trước cả khi nhìn thấy ngài, đó là một khoảnh khắc vô cùng xúc động. Họ đón nhận ngài như một người được ban tặng cho họ.

❓Trước đó, cha có nghĩ rằng Hồng y Prevost có thể sẽ trở thành Giáo hoàng mới không?

Tôi đã có linh cảm như vậy. Ngài cực kỳ giỏi trong việc kiến tạo hòa bình. Khi có những căng thẳng trong Giáo hội, Đức Lêô, khi còn là Hồng y Prevost, luôn mang tới món quà vĩ đại, đấy là kết nối mọi người lại với nhau, hàn gắn vết thương và giúp họ cùng nhau tiến về phía trước. Tôi nghĩ đây không phải là tiết lộ bí mật đâu… Lúc sau, khi tôi lên chào ngài và trao cho ngài nụ hôn bình an, ngài bảo tôi, “Cha Timothy, tôi không nghĩ mình sắp gọi cha là ‘Đức Hồng ý đáng kính!’”. Đây đúng là thái độ điển hình cho nhân cách của một con người. Ngài là một con người đúng nghĩa.

❓Việc bỗng chốc trở thành Giáo hoàng chắc hẳn sẽ là một trải nghiệm đáng sợ. Cha có chuẩn bị tinh thần đón nhận một điều như vậy chăng?

Ồ, tôi biết mình sẽ không bao giờ là Giáo hoàng. (Ngài cười) Quá già, lại bệnh tật nhiều. Làm Giáo hoàng không bao giờ hợp với tôi. Nhưng bạn sẽ không bao giờ muốn ai đó trở thành Giáo hoàng mà lại quá coi trọng bản thân. Nếu bạn nghiêm túc chọn Chúa thì bạn không thể quá xem trọng bản thân mình được. Ngay sau Mật nghị, điều đầu tiên Đức Lêô làm là triệu tập các Hồng y và tuyên bố, “Chúng ta hãy cùng nhau trò chuyện.” Trò chuyện là một trong những việc mang đậm tính người nhất. Tình bạn và trò chuyện luôn đi cùng nhau, và trò chuyện phải là trung tâm của đời sống Giáo hội. Trò chuyện với chính mình. Trò chuyện với những người có quan điểm khác chúng ta. Hôm đó là một ngày tuyệt vời đối với chúng tôi và cũng là một ngày tuyệt vời ở quảng trường. Hàng chục ngàn người đã hân hoan reo mừng.

❓Việc bầu chọn một vị Giáo hoàng mới có phải là một khoảnh khắc chuyển giao kỳ lạ không?

Chẳng phải tất cả chúng ta đều có những khoảnh khắc như vậy sao? Người ta kết hôn; điều đó thay đổi họ. Người ta qua đời; điều đó cũng thay đổi họ (Ngài cười). Tất cả chúng ta đều trải qua những bước chuyển mình như vậy trong đời. Chúng ta có những vị trí mới đi kèm với trách nhiệm; trở thành một người cha, sinh con đẻ cái, là một khoảnh khắc biến đổi sâu sắc trong cuộc đời họ. Chúng ta phải trân trọng những khoảnh khắc thay đổi này. Hầu hết các xã hội truyền thống đều có các nghi thức khai tâm giúp mọi người trở thành cha mẹ, anh chị em, hay người lãnh đạo. Trong xã hội hiện nay, chúng ta lại không giỏi lắm trong việc giúp mọi người sống sung mãn căn tính trước những thay đổi lớn lao ấy trong đời.

❓Ngay cả khi nhân loại lúc nào cũng có chiến tranh, cha vẫn rao giảng hòa bình sao?

Nhiều người coi chiến tranh là điều không thể tránh khỏi và cho là lúc nào cũng sẽ có chiến tranh, nhưng chúng ta phải tin rằng chiến tranh không phải là không thể tránh khỏi. Vẫn có thể tìm được hòa bình chứ. Ở Đất Thánh có một phong trào tên là ‘Musalaha’, tiếng Ả Rập có nghĩa là hòa giải. Họ đưa những người trẻ Israel và Palestine, các bạn theo Do Thái giáo, Kitô giáo và Islam giáo, vào sa mạc; ở đó họ lắng nghe sa mạc. Đầu tiên, họ tập lắng nghe sự thinh lặng; và rồi họ học lắng nghe nhau, thế nên chúng ta đừng bao giờ cho rằng chiến tranh là không thể tránh khỏi. Kế đến, chúng ta phải có khả năng tưởng tượng về hòa bình. Thường thì chúng ta không tìm hòa bình vì không thể hình dung nó được. Kinh Thánh tràn ngập những hình ảnh tuyệt vời về hòa bình, con chiên sẽ nằm cạnh sư tử, và nhiều hình ảnh khác trong sách Isaia. Chúng ta phải sử dụng trí tưởng tượng của mình. Khi đối diện với sự tàn bạo của chiến tranh, hiểu được nó khủng khiếp thế nào, bạn sẽ muốn đấu tranh cho hòa bình. Tôi có tình cờ xem được một đoạn phim ngắn về một người lính trẻ người Nga ở Ukraine, bị một máy bay không người lái truy đuổi. Cuối cùng, anh ta bị dồn vào đường cùng và biết là không còn hy vọng. Người ta thấy anh đã tự kết liễu đời mình. Tôi đã khóc suốt một giờ sau khi xem, vì đã thấy cảnh chiến tranh kinh hoàng đến mức nào.

❓Hiện nay mọi thứ còn tệ hơn, chúng ta sở hữu bom nguyên tử, còn trước đây họ chiến đấu bằng đá. Cha thấy ở đây có sự tiến bộ nào không?

Khi nhìn vào người trẻ, tôi biết họ đã vượt lên các căn tính dân tộc hẹp hòi. Đấy là mặt tốt của mạng xã hội. Họ có bạn khắp nơi. Mỗi khi thức dậy vào buổi sáng, tôi sẽ nhận được email từ Philippines, Nigeria, Australia. Tất cả chúng ta đều sống trên phạm vi toàn cầu, và chúng ta hãy nắm bắt khoảnh khắc mới này, khi tất cả chúng ta là công dân toàn cầu. Không ai trong chúng ta bị giam hãm trong một nền văn hóa quốc gia nhỏ hẹp. Tôi đặt nhiều hy vọng vào người trẻ, vì họ hiểu rằng chiến tranh là ngu xuẩn và sai trái.

❓Tại sao cha thích đọc tiểu thuyết, ngay khi còn nhỏ?

Khi lên tám tuổi, tôi được học với một thầy giáo tuyệt vời, và nếu chúng tôi ngoan, thầy sẽ đọc cho cả lớp nghe truyện của Charles Dickens. Tôi đã nói với mẹ, “Con muốn có một cuốn tiểu thuyết của Dickens làm quà Giáng sinh,” và mẹ tôi nghĩ điều đó thật nực cười, vì lúc đó tôi chỉ mới tám tuổi thôi. Nhưng bà nội tôi, một người phụ nữ tuyệt vời và khôn ngoan, lại bảo, “Cứ để nó đọc Dickens. Nó không hiểu hết nội dung đâu, nhưng nó sẽ bị cuốn hút bởi cái đẹp, bởi âm điệu của ngôn ngữ.” Tôi tiếp tục đọc tiểu thuyết bởi vì chúng mở rộng trái tim mình. Khi đến Mỹ Latinh, tôi đã đọc những tác giả như Isabel Allende, Gabriel Garcia Marquez, Mario Vargas Llosa, bởi vì khi đó tôi phải mở lòng ra đón nhận một cộng đồng người khác. Đi đến đâu tôi cũng đều hỏi những người ở đó: “Nhà văn viết hay nhất của các bạn là ai?” hay “Đâu là những thi sĩ tài ba nhất của các bạn?”. Nếu tôi muốn trở thành công dân của Nước Chúa, tôi cần phải trở thành công dân của toàn cầu ngày hôm nay. Thơ ca, tiểu thuyết, phim ảnh và âm nhạc giúp bạn được mở ra. Thánh Tôma Aquinô gọi điều này là ‘expansio cordis’ – sự mở rộng con tim.

❓ Dostoyevsky có phải là nhà văn yêu thích của cha không?

 Tôi vô cùng kính trọng Dostoyevsky, nhưng tôi thấy hổ thẹn khi phải thú nhận là tôi lại thích Tolstoy hơn. Anna Karenina[1] là một trong những cuốn tiểu thuyết yêu thích của tôi.

❓Còn về phim ảnh?

Des Hommes et des Dieux là một bộ phim phi thường về những bi kịch ở Algeria vào thập niên 1990, khi những tu sĩ ở đây bị đe dọa tính mạng. Đó là chuyện có thật. Từng lời thoại đều được trích từ nhật ký của họ. Họ biết rằng quyết định ở lại cùng những người hàng xóm Islam có thể khiến họ bị giết, và đúng là tất cả đã bị sát hại. Chúng tôi có một người anh em sống ở đó là Đức cha Pierre Claverie[2], Giám mục của Oran. Tôi đến ở với ngài khoảng hai tuần sau các vụ sát hại, và tôi đã chứng kiến toàn bộ bi kịch của người dân Algeria. Bộ phim, tựa đề tiếng Anh là Of Gods and Men, đã mở ra cánh cửa giúp ta nhìn thấy bi kịch của toàn bộ người dân Algeria. Quả là một đặc ân khi được chia sẻ cuộc sống, chia sẻ tình yêu và chia sẻ nỗi đau của họ.

❓Còn các nhà thơ thì sao?

Tôi thích nhà thơ người Ireland Seamus Heaney. Ông là một người bạn của cộng đoàn này và thường xuyên ở lại đây. Tôi đã có nhiều lần cùng Seamus uống bia ở quán rượu. Ông là một trong những nhà thơ vĩ đại của thế kỷ XX. Ông đã đấu tranh với đức tin. Tôi không rõ liệu ông có tin hay không, nhưng ông thực là một người đang tìm kiếm, và đấy là điều khiến tôi yêu mến ông. Tôi thích ở bên những người đang đi tìm.

❓Thế còn về âm nhạc?

Lúc trước chắc tôi sẽ nói là mình thích Mozart, nhưng khi đến Slovenia, tôi được xem một vũ công tài ba, đáng kinh ngạc người Ấn Độ tên là Aakash Odedra biểu diễn. Tôi như bị hớp hồn, nhảy như khỉ khi được chứng kiến người đàn ông này khiêu vũ, sống động trong từng chuyển động và tiếng nhạc.

❓Cha đã tham dự Mật nghị trong Nhà nguyện Sistina huy hoàng của Michelangelo. Phải chăng, việc được gần gũi với một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại như vậy  điều gì đó thật đặc biệt?

Đấy là một trải nghiệm tuyệt vời. Một hình ảnh thật mãnh liệt. Thật không thể tin được. Trước đó tôi chưa từng nhận ra nó có sức truyền cảm mạnh đến thế. Ban đầu tôi có chút chán nản: hình ảnh những kẻ bị kết án rơi xuống địa ngục, nhưng rồi tôi nhận ra đó lại là một khải hoàn ca của sự sống, chiến thắng của tình yêu, khi thấy những người đau khổ phục sinh cùng nhau, và Chúa Giêsu nói với họ: “Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm; Ta đói, các ngươi đã cho ăn.” Điều bạn thấy trong bức tranh này là khi con người ở bên cạnh nhau thì chiến thắng sẽ đến. Nếu ta biết tựa vào tình yêu ta dành cho nhau, thì rồi sự sống sẽ chiến thắng.

Cám ơn cha vì sự hiện diện và những lời chia sẻ đầy khôn ngoan của cha dành cho chúng tôi hôm nay.

 

_Phêrô Lê Văn Đức, O.P. chuyển ngữ_

Nguồn: Cardinal Timothy Radcliffe, https://www.alainelkanninterviews.com

https://admin.daminhrosalima.net/admin/manage-post/post/detail


Chú thích của người dịch:

[1] Một trong những tiểu thuyết của văn học Nga được dịch ra tiếng Việt sớm nhất.

[2] Đức cha Pierre Claverie bị sát hại ngày 01/8/1996, được phong chân phước cùng với 18 đồng bạn tại Oran, Algeria, ngày 8/12/2018.