31/05/2019 -

Các Thánh Dòng

225
Ngày 26/5 - Thánh Henare Minh

Ngày 26/6

Thánh Đa Minh Hê-na-rê Minh

(1765 – 1838)

Hậu phương và tiền tuyến


Hầu hết những người sống đời thánh hiến đều cảm nhận được sự hỗ trợ về cả tinh thần lẫn vật chất từ gia đình. Có lẽ hình ảnh đẹp và đáng ghi nhớ nơi cuộc đời Thánh Đa Minh Hê-na-rê Minh đó là khi cha thi hành sứ vụ truyền giáo tại Việt Nam, trong giai đoạn bách hại đạo gay gắt nhất, cha đã soạn một lời kinh đơn sơ để gởi về cho đứa cháu năm tuổi nơi quê nhà, xin cháu cầu nguyện cho cha. Lời kinh đơn sơ như sau:

“Lạy Chúa Giê-su rất dịu hiền là cha của lòng con. Xin Chúa vì cuộc tử nạn thánh, vì công nghiệp và lời Đức Mẹ chuyển cầu, xin đoái thương đến bác của con là Đức Giám mục Đa Minh. Xin gìn giữ bác khỏi mọi sự dữ. Xin cho bác yêu Chúa thiết tha, trung thành phục vụ Chúa suốt cuộc đời. Và nếu cần để tôn vinh và làm hiển danh Chúa hơn, xin cho bác được phúc đổ máu mình và hiến dâng mạng sống cho tình yêu Chúa để làm chứng cho đức tin. Amen".

Cô cháu bé đã dâng lời nguyện đó hằng ngày, dù em biết rất ít về bác của mình. Chúa đã nhận lời khẩn xin tha thiết của hai bác cháu tại hai phương trời xa xăm, hậu phương và tiền tuyến.

Đa Minh Hê-na-rê sinh ngày 19/12/1765 tại làng Ba-ê-na, giáo phận Cô-đô-da, Tây Ban Nha. Năm 16 tuổi, Hê-na-rê xin tu Dòng Đa Minh ở tỉnh Gra-na-da. Năm 18 tuổi, cậu được lãnh tu phục, một năm sau cậu được tuyên khấn. Cuối năm triết đầu tiên, thầy Đa Minh Hê-na-rê xin phép chuyển qua Tỉnh Dòng Rất Thánh Mân Côi – Phi-lip-pin, để được đi truyền giáo ở Việt Nam. Thầy đã được toại nguyện.

Tại Ma-ni-la, thầy He-na-res vừa tiếp tục học thần học, vừa dạy văn chương cho học sinh trường thánh Tô-ma. Năm 24 tuổi, thầy được thụ phong linh mục và được gửi đi truyền giáo tại Bắc Việt. Cha đã được trao phó việc coi sóc chủng viện Tiên Chu. Trong nhiều năm, cha kiên trì dạy các chủng sinh học tiếng La-tinh và giúp họ rèn luyện các nhân đức. Cha được Tỉnh Dòng ủy nhiệm làm Bề trên các cha Dòng Đa Minh tại Việt Nam lúc bấy giờ.

Sau mười ba năm truyền giáo, cha He-na-res Minh được tấn phong giám mục, khởi đầu một giai đoạn phục vụ trong bình an kéo dài hơn 20 năm. Với tinh thần phục vụ cao, đức cha Minh thường chọn cho mình những họ đạo xa, nơi rừng sâu nước độc. Linh mục Héc-mô-si-la Vọng đã viết về đức cha Minh như sau: "Ngài là một thủ lãnh thanh khiết trong đời sống, là vị mục tử nhiệt tâm không hề mỏi mệt vì ơn cứu độ các linh hồn và là đấng khao khát mãnh liệt phúc tử đạo. Ngài sẵn sàng lên đường bất cứ lúc nào trách nhiệm đòi hỏi, dù đang nửa đêm khuya vắng. Ngài có lòng đạo đức trổi vượt, biểu lộ qua việc cầu nguyện không ngừng, đồng thời siêng năng nghiên cứu các giáo phụ. Ngài sống nghèo khó Tin Mừng thực sự, và như một người cha hiền dịu, ngài quảng đại với những người xấu số. Đó là những nhân đức chính mà ngài luôn nêu gương".

Sứ vụ truyền giáo tưởng chừng như bình an hoan lạc. Thế nhưng, không lâu sau đó giữa cơn bách hại của vua Cảnh Thịnh, các quan quân được lệnh lùng bắt các giáo sĩ. Một giáo dân đã lừa cho đức cha trú ẩn và tố giác đức cha. Đức cha đã bị bắt khi trú ngụ tại nhà giáo dân ấy. Quan quân nhốt đức cha vào cũi.

Trước khi khởi hành ra pháp trường, nhiều binh sĩ đã trót nhát sợ đạp lên Thánh Giá, đến quỳ khóc lóc trước cũi, xin đức cha cầu nguyện và tha thứ. Đức cha đã nhân ái an ủi họ và giúp họ thống hối đền tội. Trên đường ra pháp trường, đức cha Minh ở trong cũi với nét mặt hân hoan, miệng thầm thĩ nguyện kinh và giơ tay ban phép lành cho các tín hữu đang khóc thương đứng ở hai bên đường.

Hôm đó là ngày 26/6/1838, Thiên Chúa đã gọi đức cha Hê-na-rê Minh về trời lãnh ngành thiên tuế tử đạo, chấm dứt 73 năm trên dương thế, với 43 năm phục vụ tại Việt Nam, 38 năm giám mục.

Lạy Chúa, như thánh Tê-rê-sa Hài Đồng, xin Chúa cho mỗi người chúng con biết cộng tác vào sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội bằng tấm lòng thiết tha cầu nguyện qua những lời kinh đơn sơ và sự hy sinh chân thành trong từng ngày sống của chúng con. Amen

114.864864865135.135135135250