02/12/2018 -

Cđ Mai Linh

77
Từ một câu chuyện
TỪ MỘT CÂU CHUYỆN



Sáng nay, ly càfê đắng bờ môi chưa vội  vơi, Hial ngại ngùng tiếp một vị khách trước lạ, sau quen.
  • Chào chị, em giúp được gì cho chị? Hial hỏi
  • Cô sơ ơi! Các em học ở đây…em là giáo viên cấp 1… em …em …. Xin cô thông cảm cho em … khổ quá … em đã gửi hồ sơ lên phòng giáo dục rồi, cô cho mấy em lên lớp 3 giúp em, cô sơ thương giúp em.
  • Cô giáo! Từ từ ha, không vội vàng gì – Hial cười nói – em có mấy em, tự các em muốn ở lại lớp 2 vì chưa biết đọc, lên lớp 3 ….???
  • Nhưng các em lớn tuổi hết rồi – cô giáo cắt ngang lời Hial – cô cho lên nhé, em bị khiển trách nhiều, chồng con ở nhà cũng không hiểu nên cứ nghĩ em dạy học không tốt nên mãi vẫn chưa lên lương, chưa đạt yêu cầu.
Hial nhìn cô đáng thương hơn đáng trách, cuộc sống công việc – gia đình – miếng cơm – manh áo. Dù trong lòng rất bực cho cái gọi là “thành tích” trong ngành giáo dục nhưng không thể không chùng lòng trước thái độ nài nỉ của cô giáo. Hial thở dài nói:
  • Cảm ơn cô, thôi thì các em lên hay xuống tùy cô, nhưng nói thật là các em chưa đọc được ngay cả chữ đơn giản nhất như là từ “cá”.
  • Vâng, em biết, cảm ơn cô sơ, em về đây, em đưa các em lên lớp 3 nhé. Em chào!
Cô ra về vui vẻ như được giải tỏa một sự cẳng thẳng không đáng chịu.
 Hial cảm thấy lòng mình gượng ép khi phải nhún nhường một việc không thật chút nào. Ly cafê đắng tan vào những viên đá lành lạnh, vị đắng này “là lạ” không mặn nồng như những lần trước hi!


…..
Em trở về từ trường
  •  Ơ yă! Kâo trun glăi anih sa yơh, mơak đơi (con xuống lớp 1 học lại rồi, vui quá)
  •  Hgơt? Hyưm pă? (cái gì, sao)
  •  Bó chiếu luôn
Làng Dơnông, Kông Htok cách thị trấn Chư Sê, Gia Lai chừng 10km về phía đông, đông bắc nơi cộng đoàn Mai Linh hiện diện. Nơi đây, các anh chị em Jrai và Bahnar sống chung với nhau và biết nói tiếng nói của nhau, nhiều làng đã trở lại đạo Chúa nhưng cũng không ít làng vẫn còn thần tượng “Bác”. Người kinh ở miền Bắc mới vào, dân Bình Định sinh sống xen lẫn trong các làng đếm không hết được. Cộng đoàn Mai Linh, mới thành lập, tọa lạc giữa một làng yêu mến “Bác”. Còn Hial, con nai rừng ngẩn ngơ, trôi dạt đến đây nên an tâm với suy nghĩ “anh chị em Jrai, Bahnar ở gần thị trấn với nhiều người kinh, có lẽ đời sống đạo, việc học hành, kinh tế khá hơn rồi”. Eo ơi! Cuộc sống có trên hàng trăm, hàng ngàn điều kỳ diệu đi ngược lại với những gì Hial nghĩ, mỗi bước đi là từng bước ngạc nhiên đến không thể tưởng được nữa, chấp nhận và từng chút một thôi.
 
  1. Đi học hay không cũng bình thường??
Việc giúp các em Jrai, Bahnar tại các làng được đi học là một trong những ưu tiên kế sau của việc đồng hành cùng anh chị em Jrai trong đời sống đạo Chúa, nên bước đầu là mở lớp dạy hè (cộng đoàn bát đầu hiện diện vào dịp các em đang nghỉ hè). Những ngày hè, các em cấp 1 đi học rất đông 40 – 50 em mỗi ngày, cấp 2 ít hơn vì phải đi làm giúp ba mẹ. Hial đã rất quen với việc các em người bản địa học lớp 7 – 8 không biết đọc là bình thường nhưng ở đây gần thị trấn mà???

Mùa hè qua mau, các em vào năm học, cộng đoàn Mai Linh chào đón các em học sinh, gọi là bán trú. Các em học sáng ở trường, học chiều ở cộng đoàn và ngược lại. Trưa, các em nghỉ và ăn trưa tại cộng đoàn. Tháng đầu tiên, đông vui, tiếp theo là những tháng ngày vắng thưa dần dần ??!!! Lân la dò hỏi, Hial nhận được câu trả lời “Học nhà yă sơ mệt lắm, học ở trường thôi, thích nghỉ thì nghỉ. Học ở nhà yă sơ, cơm nước đầy đủ, bánh kẹo ăn thêm rất thích nhưng học mệt lắm. Học ở trường về nhà đi chơi, gài bẫy bắt chim, đánh cá, mót càfê… không học cũng không sao???” Gặp ba mẹ cũng chỉ nói vu vơ vài câu: nó không nghe mà, không chịu đi học đâu, kệ nó. Cũng có trường hợp sợ con theo đạo các yă sơ nên không muốn cho con vào học.
Một cái nhìn thực tế, dù sống gần thị trấn, nhưng ở làng có được mấy em đi học hết cấp ba hay có một công việc ổn định tốt hơn nhờ vào việc học đâu. Hầu hết, các bạn nam bỏ cuộc ở cấp 1, các các nữ dừng chân tại cấp 2 trường làng. Các em lại sống cuộc đời lam lũ với kiếp làm thuê cho người kinh, chăn bò mướn, cuốc đất, nhặt khoai kiếm tiền vào Internet… sống lây lất qua ngày. Lớn lên một chút, có em đi Sàigòn kiếm tiền, đầu xanh, tóc đỏ, xăm trổ đầy mình, kem phấn, ăn mặc những trang phục model kinh dị... Ở những làng, Hial tiếp xúc thuật ngữ “nao pơ Saigon” (đi Sàigòn) như ăn cơm bữa trên môi miệng anh chị em trẻ. Học hay không học cũng bình thường thôi. Đối với con cháu của các cựu chiến binh trong làng, đạo Công Giáo không hay bằng Hồ Chí Minh đâu.

Như một người thừa sai, cộng đoàn Hial bắt đầu từ đâu để có thể giúp các em ý thức hơn về việc học? Đến giờ, ý tưởng này vẫn chỉ là một ưu tư đang cố gắng thực hiện ở mức độ thấp nhất là: giúp các em biết đọc biết viết tiếng Việt để mở ra với xã hội, biết đọc biết viết tiếng dân tộc mình để sống niềm tin trong nếp sống và ngôn ngữ của mình, đồng thời yêu mến chính dân tộc mình hơn. Đồng thời, ta sống sao đây để “hay” hơn ông “Hồ” hi hihi.
 
  1. Đời sống đức tin
Xa lạ nhưng lại như quen biết nhau từ bao giờ dù chưa một lần gặp gỡ, đó là lợi hại của việc biết tiếng bản địa, Hial rất tự hào đó nha! Hial được chị trưởng đưa đến những giáo điểm đã có nhiều hoặc ít người trở lại đạo Chúa, vài điểm đã có nhà nguyện. Tốt rồi, Hial cứ thế mà tiếp tục công việc thôi. Nhưng khi bước vào các giáo điểm, hỡi ơi! Thương lắm những người con ngoan của Chúa. Anh chị em chỉ biết đến Chúa Nhật là đi lễ bên người kinh, theo Chúa, tin Chúa, giữ ngày Chúa Nhật … chấm hết. Ngoài ra không biết thêm điều gì nữa.

Sau khi tìm hiểu, Hial biết: Nhiều anh chị em đã rửa tội 2-3 năm, 4 -5 năm, mới trở lại chưa được Rửa Tội… nhưng làm dấu thánh giá chưa đúng, chưa biết cách xưng tội, chưa biết đọc kinh Lạy Cha hay Kính Mừng? Anh chị em tin Chúa qua chính những anh chị em làng khác truyền lại. Tin Chúa, theo Chúa, tuyên xưng niềm tin được dắt đi Rửa Tội, thả lại về làng, không người chăm sóc giúp đỡ về đức tin nên một số chết nghẹt trong nếp sống văn hóa của làng, số nữa sống đạo thoi thóp, ngao ngán miệng nói có đạo nhưng không biết cầu nguyện, bỏ lễ. Đời sống luân lý tùm lum, rối hôn phối quá nhiều. Số ít, còn lại đi lễ, biết là quan trọng nhưng không hiểu gì. Một “bức tranh” có nhiều mảnh ghép chưa hài hòa.

Như một người thừa sai, Hial từng có chút ít kinh nghiệm sống đức tin với anh chị em bản địa nhưng chưa lần nào nhận lãnh một “bức tranh” khó nhìn như thế này. Thôi thì làm bạn với nó, bắt đầu từng chút một hi vọng cùng với chị em trong cộng đoàn và Thánh Thần Chúa nhặt từng “mảnh” một của “bức tranh” nhiều mảnh ghép chưa hài hòa này làm gì đó cho nó dễ nhìn hơn.

 Bước đầu, chị trưởng và cộng đoàn là hậu cần vững chắc việc mở lớp đào tạo lại Ako Khul, một số anh chị em cùng làm việc với Ako Khul. Mỗi thứ bảy hàng tuần về tại cộng đoàn để tham gia lớp học. Học Kinh Thánh, giáo lý bằng chính chữ viết và tiếng nói của dân tộc mình. Tuyển chọn một vài anh chị em có khả năng cộng tác trong việc đi tập hát, dạy giáo lý cho các em nhỏ tại các giáo điểm. Trong công việc này, có một chị em đồng hành với họ. Mọi chi phí, chị trưởng cộng đoàn “chạy”, ăn, uống, xăng đi làng, thêm chút ít gì đó… chị trưởng bao trọn. Ở đây, Hial muốn nói đến một cộng đoàn có cùng cái nhìn và hướng đi chung. Một cộng đoàn chị em có cùng nhịp đập và thao thức chung đối với sứ vụ Jrai. Nếu cộng đoàn không cùng hướng đi hoặc bàng quang thì người sứ vụ không những cô đơn trong sứ vụ mà còn bị chính chị em trong cộng đoàn loại trừ lúc nào không biết.



Đến nay, qua 5 tháng “bức tranh” này cũng có chút chút khởi sắc. Mơ ước thì to nhưng ta giới hạn quá nhiều. Cần lắm Thần Lực của Chúa, sự chung tay của chị em trong cộng đoàn, lời cầu nguyện của nhà Dòng, sự dấn thân của từng cá nhân cho sứ vụ Jrai.
 
  1. Đời sống kinh tế
Đây là vùng đất màu mỡ, phì nhiêu với tiêu, càfê, lúa nước nhưng anh chị em mình chỉ còn mỗi cái nhà ọp ẹp để dung thân qua ngày đoạn tháng. Ở vùng biên giới, trước đây Hial sống, cứ tưởng là nghèo và ý thức thấp… Có ai ngờ, chốn này còn khổ hơn, thấp hơn. Anh em Jrai cho thuê đất hoặc bán luôn đất cho người kinh chỉ còn chút bẻo đất để dựng nhà. Bước chân ra khỏi nhà là đất người kinh rồi. Họ chỉ lanh quanh với vài mảnh ruộng nước trồng lúa bản địa. Những năm trước kia, lúa trồng được hai mùa, giờ người ta đắp suối, ngăn sông nước đi đâu mất hết, làm lúa một mùa không đủ gạo ăn, lấy đâu trang trải thứ khác trong gia đình. Tiêu, cafê cao giá, người kinh còn thuê đi làm, nay rớt giá, họ thuê với giá rất “bèo” (150.000/ngày công không ăn cơm). Cuộc sống thiếu trước hụt sau, anh chị em Jrai vẫn tà tà, chiều chiều vẫn quây quần bữa tiệc rượu với trái đu đủ hoặc vài con cua đồng, khi mùa mưa tới. Các em nhỏ nheo nhóc bên những căn nhà xiêu vẹo khiến lòng người lữ khách không khỏi quặn đau nhưng biết làm sao đây?

Như một người thừa sai, ta ưu tư về đời sống kinh tế của anh chị em nhưng chị em chúng tôi không đủ khả năng để có thể đưa kinh tế anh chị em khá lên được, tại sao??? Hơn một trăm năm Tin Mừng Chúa hiện diện, chốn này, anh chị em bản địa vẫn nghèo khổ? Chị em trong cộng đoàn Hial nói với nhau, mình chỉ có thể đồng hành cùng anh chị em trong đời sống đức tin, có Chúa trong cuộc đời, anh chị em có được niềm vui, sự bình an. Có Chúa, trong làng bớt đi những tệ nạn xã hội. Có Chúa, chính bản thân anh chị em sẽ tự vươn lên trong chính nếp sống văn hóa của làng mình. Bao năm nay, không có ta, anh chị em vẫn sống có sao đâu.

 Người sứ vụ không phải là người ban phát, đáp ứng mọi nhu cầu cho anh chị em. Ta sẽ khiến anh chị em tưởng ta giàu có lắm. Hial hay nói với anh chị em “cho 10kg gạo ăn vài ngày đi vệ sinh là hết, uống ly sữa đi tiểu là xong nhưng học hỏi đón nhận Lời Chúa thì tồn tại mãi trong đời sống chúng ta, đến đời con cháu nữa. Nên những lần nhận quà dù to hay nhỏ cũng chỉ là thêm niềm vui thôi. Không ai giàu có cho mình ăn cả đời đâu. Ta phải tự làm nuôi sống ta và gia đình, Chúa chúc lành cho ta”. Nhiều anh chị em hiểu điều này và họ rất vui. Chính vì thế, ta nên tránh kiểu nói: “anh chị em theo đạo vì quà”, sẽ tổn thương đấy, vì rất nhiều anh chị em tin theo đạo Chúa lâu năm vẫn đói khổ bình thường và cũng chẳng nhận được sự trợ cấp nào.

Như một lời kết: Chúa Giêsu, xưa xuống thế làm người đã không chọn một dân tộc văn minh xuất chúng như Rôma nhưng là một dân tộc chịu ách thống trị của Rôma (Lc 1,5) Ngài lớn lên trong gia đình hèn mọn (Lc 2, 51-52), Ngài sống với tất cả nếp sống và văn hóa của một người Do Thái thực sự. Hơn ai hết, Ngài hiểu và thấu rất rõ nổi thống khổ của người dân. Trên đường đi rao giảng, gặp người đói người cho ăn (Mc 8,1-9; Lc 9,10-17; Ga 6,1-13). Thấy người đau khổ vì bệnh hoạn, tật nguyền Ngài chữa lành (Lc 7,1tt; Mc 11,46-52; Mt 9,3-34). Kẻ có tội, Ngài tỏ lòng xót thương (Lc 7,36-50; Ga 8,2-11). Chúa không ngại rộng tay đón những em nhỏ nheo nhóc đến với mình (Mc 10,13-16), nhưng cũng không nén nổi cơn giận khi dân mình sai lỗi (Mc 11, 15-19; Ga 2,13-22.. Tất cả những điều ấy, cho thấy Chúa Giêsu là một Người thật sự hiểu rõ dân Người. Nhưng việc chính của Chúa không phải đến để làm phép lạ cho dân người có cái ăn cái mặc để khỏi lao đọng đói khổ, không phải phán một lời là hết đau bớt bệnh hay hô biến một phát là giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ Rôma. Việc của Chúa Giêsu là rao giảng Nước Trời, chịu chết để Cứu Độ con người. Như Một người thừa sai, theo Chúa Giêsu ta biết ta phải làm gì trên cánh đồng truyền giáo muôn màu muôn sắc?

Pô Hial


 
114.864864865135.135135135250