22/10/2018 -

Khác

68
Suy niệm về cuộc đời và vinh phúc tử đạo Thánh Phanxico Trần Văn Trung
Ngày 6 tháng 10
Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung
Cai đội (1825-1858)


1. Suy niệm về cuộc đời và vinh phúc tử đạo.

Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung sinh khoảng năm 1826 tại Phan Xá, Tỉnh Quảng Trị, dưới thời vua Minh Mạng, thuộc gia đình Công giáo, tiếp nối chí hướng với thân phụ, ông cũng là một cai đội. Khoảng 24 tuổi ông kết hôn với một thiếu nữ cùng làng sinh được bốn người con. Như mọi gia đình Công giáo ông cai đội chu toàn trách vụ Ki-tô hữu. Sau đó vì một lí do đặc biệt, ông bị bắt giam trong tù. Sau khi cửa Hàn bị quân Pháp chiếm đóng, ngày 01/9/1858 Vua Tự Đức liền cho phóng thích binh lính bị giam để xung vào quân đội, cùng với các bạn ông hăng hái lên đường, nhưng vì không chịu bước qua thập giá ông bị đưa trở lại nhà ngục để chờ chịu xử tử. dầu sắp chịu án tử ông vẫn bình tĩnh thu xếp việc nhà. Sáng ngày 6/10/1858 vì đổi giờ hành quyết nên ông không lãnh nhận Bí tích giải tội được, trước giờ hành quyết ông quỳ xuống và xin đao phủ lấy vôi vẽ hình thánh giá trên cổ rồi hiên ngang đưa cổ cho lý hình chém. Ngày 2.5.1909 Đức Thánh Cha Pi-ô X suy tôn ông đội Phan-xi-cô Trần văn Trung lên bậcChân Phước. Và Đức Giáo Hoàng  Gio-an Phao-lôII phong Hiển Thánh cho Ngài ngày 19.6.1988,lễ kính vào ngày 6/10.

Bước theo Đức Ki-tô người môn đệ được mời gọi trở nên nhân chứng hay chứng nhân? Thiết nghĩ người môn đệ được mời gọi bước theo Thầy Chí Thánh chắc là không chỉ dừng lại ở việc “đến- xem- ở lại”.Ở bất cứ thời đại nào, người môn đệ Chúa vẫn phải là những người sẵn sàng lên đường, sẵn sàng cho sứ vụ. Giữa một xã hội tục hóa  hôm nay, ta chọn một lối sống nào: nhân chứng hay chứng nhân? Sống với lí tưởng của những cơ cấu yên ổn hay một lần nữa nhìn về tính ngôn sứ với những đòi hỏi của nó?

Theo dấu của lịch sử,  ta tìm về một quá khứ hào hùng, để cùng sống kinh nghiệm đức tin của cha  ông. Những  gương sống can trường, với những bài học đức tin vô giá đôi khi bị quên lãng, bị đánh đồng. Có nhiều người sẽ bảo thời nay khác rồi, hay đại loại như “xưa rồi diễm”… Không thể phủ nhận là mỗi thời có những cách thức diễn tả khác nhau, những thách đố mang sắc thái khác nhau, cho dù những nguyên tắc căn bản là không đổi. Chính vì vậy mà lựa chọn sống chứng nhân hay nhân chứng vẫn luôn là thách đố.“Anh em là chứng nhân của Thầy”(Cv 1,8) Thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung đã chọn lựa cho mình một lối sống:“Tôi là người Công giáo. Tôi sẵn sàng đi đánh giặc để bảo vệ tổ quốc, nhưng không bao giờ tôi lại bỏ đạo”. Đây rõ ràng là một chọn lựa khẳng khái đã phản ánh tất cả, Thánh nhân không chỉ dừng lại ở cái biết và đi theo, nhưng còn là làm chứng. Và với cái chết của mình, Thánh nhân đã thể hiện vai trò của một chứng nhân là lấy cả cuộc đời để làm chứng cho điều mình xác tín. Một lối sống không thỏa hiệp với sự dữ, can đảm và đầy trách nhiệm, trách nhiệm với bản thân, trách nhiệm với gia đình và với xã hội.

Tiếp bước cha anh, có lẽ người môn đệ nên chăng là nhìn về tính Ngôn sứ của mình, việc là “ngôn sứ” cho thời đại mình ôm ấp niềm hy vọng, liên đới và bình an. Đâu đó người ta vẫn nói với nhau xã hội hôm nay tục hóa, sự tục hóa ấy đã xâm nhập cả vào đời tu làm xáo trộn biết bao tâm hồn, cộng đoàn. ảnh hưởng không nhỏ đến lối sống, tư tưởng và hành động của người môn đệ. Có những lối sống chỉ muốn tìm sự an thân và hưởng thụ. Làm thế nào bây giờ? Tránh xa, khép kín hay nhận định và gây ảnh hưởng? Có lẽ ở đây nếu muốn sống triệt để ơn gọi làm môn đệ thì sẽ không có chỗ cho sự an thân, ích kỉ. Nhưng làm sao để sự khôn ngoan chính Thiên Chúa truyền thông qua Thánh Kinh và Thánh Truyền thực sự có sức ảnh hưởng tới tư tưởng và hành động. Đôi khi người môn đệ gặp phải những khó khăn làm giảm lửa nhiệt thành, mệt mỏi muốn chùn bước. Có lẽ phải dừng lại để cho những xác tín nhân bản và tôn giáo sâu xa tác động và làm mới giúp người môn đệ thêm kiên định về những chọn lựa cơ bản của mình. Tin có một Thiên Chúa yêu thương và đồng hành với mình để có thể yêu thương và cảm thông hơn với anh em đồng loại. Vì thế, người môn đệ phải ý thức mình không đi một mình, không làm một mình. Bởi lẽ, dù tốt đẹp đến mấy thì những cố gắng tự thân không thể nào hoàn tất được một con người tròn đầy, một cộng đoàn và một xã hội nhân bản và đầy tình yêu thương.Đức Phan-xi-cô đã nói: “Không ai có thể sống tốt khi trốn chạy, ẩn mình vào trong an lành”. Vâng, chỉ khi nào con người nhận ra và sống tính xã hội của mình thể hiện qua tình liên đới, hiệp thông với người khác, dám sống với, sống vì và sống cho người khác. Người môn đệ luôn sống và  xác tín có một Thiên Chúa đồng hành và yêu thương, sẵn sàng lắng nghe, thấu cảm và đón nhận. Để cùng với những đòi hỏi của Tin Mừng, ngôn sứ muốn đổi mới bộ mặt xã hội phải trở nên muối, nên men gây ảnh hưởng đến những giá trị sống, tìm phát triển công ích xã hội, chứ không tìm cách né tránh, hay thỏa hiệp với sự dữ cùng với những lối sống hưởng thụ và lối giải thích hời hợt.

2. Cầu nguyện
Lạy Chúa, cảm tạ Chúa đã cho chúng con có những gương sống thánh thiện và can đảm là các Thánh Tử vì đạo Việt Nam. Xin cho chúng con luôn dõi theo gương sáng của các ngài để lại mà luôn sống  trung thành và xác tín nơi Chúa. Để đời sống của chúng con thực sự trở nên những chứng nhân Tin Mừng, góp phần xây dựng và đổi mới bộ mặt xã hội nơi từng môi trường chúng con hiện diện.

Trong tập sách SUY NIỆM VÀ CẦU NGUYỆN , Chị em Học viện đã tham khảo tài liệu từ các nguồn sách Công Giáo Thiên Hùng Sử 117 Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam; Uống Nước Nhớ Nguồn; Các Thánh  Tử  Đạo  Việt  Nam trong Lịch Sử Giáo Hội  Công  Giáo, Những  Vị  Thánh  Giáo Hội  Việt   Nam  và  Thế  Giới Yêu Mến … Xin chân thành tri ân  tác giả của các sách: Cha Vinh Sơn Bùi Đức Sinh O,P.M.A. Cha Giáo Phan-xi-cô Đào Trung Hiệu.O,P. Cha Đa Minh Phạm Xuân Uyển SDB, Cha GioaKim Nguyễn Đức Việt Châu.SSS.

M. Trần Phương

 
114.864864865135.135135135250