25/09/2018 -

Khác

52
Suy tư và cầu nguyện về thánh Emanuel Nguyễn Văn Triệu
Ngày 17 tháng 9
Thánh Emmanuel Nguyễn Văn Triệu
Linh Mục (1756-1798)

1.Suy niệm về cuộc đời và vinh phúc tử đạo.

Thánh Emmanuel Nguyễn Văn Triệu, sinh năm 1756 tại Thợ Ðức, Phú Xuân, Huế, linh mục, bị xử trảm ngày 17/9/1798 tại Bãi Dâu dưới đời vua Cảnh Thịnh. Đức Lê-ô XIII suy tôn Chân Phước cho cha Emmanuel Nguyễn Văn Triệu ngày 27.5.1900. Ngày 19-6-1988, Đức Gio-an Phao-lô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 17/09.

Là một linh mục giáo phận Đông Đàng Ngoài, với biết bao bận rộn vì công tác mục vụ, nhưng cha Emmanuel Nguyễn Văn Triệu vẫn không quên người mẹ già ở quê nhà. Năm 1798 giữa cơn bách hại gay gắt của vua Cảnh Thịnh, nhất là tại kinh đô, cha đã xin phép Bề trên về Phú Xuân thăm mẹ, và ở lại gần ba tháng để gầy dựng cho bà một mái nhà nhỏ xinh. Chính vì muốn trọn đạo hiếu với mẫu thân mà linh mục đã bị bắt.

Ba mươi tuổi đời, mười lăm năm binh nghiệp với biết bao thăng trầm, Emmanuel Triệu bước vào một khúc quanh mới, giã từ vũ khí để phụng vụ Vua trên trời và qua đó phục vụ tha nhân cách đích thực hơn. Mới đầu, anh được một linh mục dòng Tên ở Hà Nội hướng dẫn, nhưng sau anh được Đức cha Obêlar Khâm giáo phận Đông Đàng ngoài nhận vào học tại Trường Thần học Trung Linh. Và năm 1793, Đức cha Anlonsô Phê truyền chức linh mục. Khi đó cha Triệu đã 37 tuổi.
Nhờ nền giáo dục chu đáo từ nhỏ, cùng với những kinh nghiệm lâu năm trong đời sống quân ngũ, và nhất là ơn Chúa giúp, cha Emmanuel Triệu trở thành một mục tử hăng say nhiệt tình và làm việc có phương pháp. Sáu năm phục vụ trong giáo phận Đông, cha đã thu hoạch được nhiều kết quả và được các bề trên quý mến.

Dưới thời vua Cảnh Thịnh (1792–1802), tình hình chính trị trong nước ngày càng phức tạp. Nguyễn Ánh (vua Gia Long sau này) tổ chức quân đội ngày càng mạnh, hùng cứ ở Gia Định, hằng năm cứ đến mùa gió nồm lại đem quân ra đánh Huế. Hỗ trợ cho Nguyễn Ánh có một số quân Pháp do Đức cha Bá Đa Lộc chiêu mộ. Do đó, vua Cảnh Thịnh sinh ra ác cảm với đạo, nhất là cuối năm 1797, khi bắt được lá thư của Nguyễn Ánh gửi Đức cha Labartatte Bình (Giám mục Đàng Trong) ở Phú Xuân, nhà vua càng nghi ngờ đạo Công giáo tiếp tay cho giặc.

Một quan văn có đạo, quan Thượng Hồ Cung Điều nhiều lần thanh minh trước mặt nhà vua rằng: "Đạo dạy trung quân vương, hiếu phụ mẫu, chớ có phải đạo dạy làm giặc đâu". Vua nghe nói thì chần chừ. Nhưng viên quan nội hầu tên Lợi, cứ gièm pha mãi, nên cuối cùng, tháng 8.1798, một chiếu chỉ cấm đạo được ban hành.

Trước đó ba tháng, cha Emmanuel Triệu vì thương nhớ mẹ già, nên trở về khu Chợ Đúc, Phú Xuân (Huế). Thật bùi ngùi cảm động sau 12 năm xa cách, hai mẹ con lại gặp nhau. Giờ đây mái tóc của người mẹ đã bạc phơ, còn con nay đã 42 tuổi và là linh mục của Chúa. Cha Triệu thấy xót xa trước cảnh mẫu thân mình phải ăn nhờ ở đậu nhà người khác. Cha quyết định ở lại, cùng với bà con lối xóm, dựng cho mẹ một mái nhà nhỏ để có nơi nương thân. Thời gian này cha Triệu nhân thể cũng đi thăm viếng và dâng lễ tại các họ đạo gần đó. Cha được các tín hữu ở dây thương mến nhiều.

Ngày 07.08.1798, theo chiếu chỉ nhà vua mới ban hành, bốn cơ binh (mỗi cơ 50 quân) bất thần bao vây bốn giáo xứ vùng kinh đô. Tại xứ Thợ Đúc, quan quân có ý tìm cha chính xứ, cha Nhơn, nhưng nhờ quan Thượng Điều đã báo tin, nên ngài đã trốn thoát kịp. Còn cha Triệu thì mới về, nên quan không biết, quan quân bắt một số giáo hữu trong đó có cha Triệu và tra hỏi về các linh mục. Cha Triệu tự nguyện cung khai, nhận mình là người mà họ lùng bắt. Quân lính liền trói tay cha lại dẫn đi. Khi thấy mẹ già khóc lóc thảm thiết, cha Triệu dừng lại nói ít câu từ giã: "Thiên Chúa đã cho con vinh dự làm chứng cho Ngài. Xin mẹ đừng khóc nữa. Mẹ hãy vui lòng vâng theo ý Chúa".

Tiếp theo đó là 40 ngày đêm thử thách trong cảnh ngục tù. Cổ mang gông, tay chân bị xiềng xích, cha còn bị đưa ra tòa nhiều lần, chịu ba trận đòn dữ dội. Khi các quan thẩm tra lý lịch, cha nói rõ mình sinh quán Phú Xuân, vì hoàn cảnh khó khăn mới phải ra Đàng Ngoài để làm ăn, rồi được học giáo lý trong đạo và làm linh mục. Quan hỏi: "Thày có vợ con ở đây hay ở Đàng Ngoài? Cha đáp: "Tôi không lấy vợ, vì là linh mục nên tôi sống độc thân".
Ngày 17-8 các quan định kết án voi giày nhưng một viên quan không đồng ý nên vụ án được trì hoãn.

Thời gian ở trong ngục, cha Triệu vẫn giữ được niềm vui vẻ và tin tưởng vào Chúa. Điều an ủi cha nhất, là được một linh mục cải trang vào thăm và giải tội. Thân mẫu cha nhiều lần cũng đến thăm. Cha an ủi bà, xin bà cầu nguyện nhiều cho mình được trung kiên. Ngoài ra, cha tranh thủ mọi giờ rảnh rỗi để chuẩn bị tâm hồn lãnh phúc tử đạo.

Ngày xử án được ấn định là 17.9.1798. sáng sớm hôm đó, các quan hỏi cha lần cuối: "Thầy có muốn bỏ nghề đạo trưởng trở về quê quán sinh sống không? Nếu thầy đồng ý, ta sẽ xin vua tha cho". Cha Triệu khẳng khái trả lời : "Thưa không, tôi là đạo trưởng, tôi thà chết chứ không bỏ việc giảng đạo". Tại Bãi Dâu, nơi thi hành án, cha Triệu quỳ xuống cầu nguyện. Theo thói lệ, quan phát cho mỗi tử tội một quan tiền để ăn uống trước khi chết. Cha từ chối, viên quan liền nói: "Của vua ban không được coi thường". Cha trả lời : "Vậy xin ai đó cầm tiền giúp tôi, gởi cho người nghèo". Một người lính thấy thế liền tát vào mặt Ngài một cái. Viên quan nổi giận mắng anh ta: "Chưa đến giờ xử mà mi dám ngạo ngược như thế sao ?" Rồi ông quay qua mời vị chứng nhân đức tin ngồi và nói: "Khi nào đến giờ, tôi sẽ báo cho thầy". Cha Triệu liền ngồi và tiếp tục cầu nguyện.

Đúng giờ ngọ (12 giờ trưa), viên quan nói với vị linh mục: "Giờ đã đến rồi". Cha Triệu quỳ lên giơ cổ cho lý hình chém. Thi hài vị tử đạo được các tín hữu an táng tại họ Dương Sơn, sau được cải vào nhà thờ Dương Sơn.

Đức Lê-o XIII suy tôn Chân Phước cho cha Emmanuel Nguyễn Văn Triệu ngày 27.05.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gio-an Phao-lô II suy tôn ngài lên hàng Hiển thánh.

Khi nói về những người đã can đảm hy sinh để sống chứng tá cho Chúa. Chúng ta hay liên tưởng đến các vị anh hùng tử đạo, các Ngài đã chịu biết bao đau đớn về thể xác và tinh thần để làm chứng cho Chúa. Trong cuộc sống ngày hôm nay, tuy ta không bị cấm đạo như ngày xưa, nhưng có những việc đòi hỏi ta phải có lòng can đảm mới thực hiện được.

Trước hết, khi thấy một người bị tai nạn, bạn có can đảm giúp đỡ họ không hay sợ liên lụy đến bản thân. Trong công việc hằng ngày bạn có dám xả thân giúp đỡ người khác hay chỉ biết lo phận mình cho xong rồi làm việc riêng của cá nhân mình, nhất là những ai ở những cộng đoàn ít người. Có những con người đau khổ xung quanh nhưng liệu chúng ta đã nhận ra và trợ giúp họ chưa? Chúng ta đã vô tâm trước những người bên cạnh mặc dù Lời Chúa vẫn văng vẳng bên tai: “những gì các ngươi làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của ta đây là các ngươi đã làm cho chính ta vậy” (Mt 25, 40).

Trong cuộc sống chung, cũng có lúc bạn yếu đuối và làm sai một điều gì đó nhưng bạn có dám can đảm để nói lời xin lỗi không?  Trong lúc tôi còn ở gia đình, một lần đi thi giáo lý cấp giáo phận một linh mục đã chia sẻ với chúng tôi rằng: “Chúng ta không phải là ổ con cua, chúng dẫm đạp lên nhau để ngoi lên...” câu nói này làm tôi phải suy nghĩ, trong cộng đoàn đâu phải vì lợi ích cá nhân mà chúng ta dẫm chân lên nhau để mà sống, nhưng chúng ta sống tương quan và cần sự bổ túc lẫn nhau để vườn hoa đượm sắc thắm màu.

Và điều khó khăn nhất là bạn có can đảm tha thứ cho người xúc phạm nặng nề đến mình? Can đảm nghe một lời góp ý chân thành từ người khác mặc dù lời ấy làm bạn đau đớn? Bạn có sẵn sàng góp sức để cộng đoàn trở thành cộng đoàn yêu thương hợp nhất chứ không phải làm một cộng đoàn chia rẽ và hận thù? Bạn có sẵn sàng để Thiên Chúa gọt tỉa mỗi ngày để mình trở nên tốt đẹp không?

Lời Chúa Giê-su nhắc nhở tôi hằng ngày: “Điều gì anh em muốn người khác làm cho mình thì anh em hãy làm cho họ như vậy”. Nếu như ra đường chúng ta thấy một người không đi bằng hai chân mà đi bằng hai tay thì ta cho là khác thường, nhưng nếu ta thấy hàng trăm ngườì như vậy thì ta cho là bình thường. Cũng vậy, nếu cái xấu cứ lặp đi lặp lại và mọi người cứ làm theo thì chuyện đó trở nên hết sức bình thường. Xã hội càng phát triển, con người ngày càng sống vội vã và ít quan tâm đến nhau hơn. Tôi luôn suy nghĩ và tự hỏi liệu tôi đã sống đúng căn tính của một người nữa tu chưa, nhất là trong năm đời sống thánh hiến này?

Trong cộng đoàn, các chị em chính là những người giúp tôi nhận ra những thiếu sót, những yếu điểm của chính mình, đó chính là tấm gương phản chiếu giúp cho tôi thấy rõ con người thật của mình. Cũng vậy đời sống cộng đoàn đòi hỏi mỗi người phải hy sinh rất nhiều, phải vượt qua chính mình, mở lòng ra để đón nhận chị em. Mỗi chị em chung quanh tôi là mỗi thập giá Chúa gửi đến cho tôi. Thập giá, đó là những ai khác những cá tính của người khác làm mình khó chịu, không hài lòng. Nói một cách nhẹ hơn, mỗi chị em chung quanh tôi như những món quà Chúa gửi tặng cho tôi. Món quà đó có thể làm cho tôi rất khó chịu, khó mà chấp nhận: đó là những người thù địch, chống đối, làm phật lòng tôi. Nhưng cũng có những món quà mà làm tôi rất là hài lòng: đó là những người hợp với tôi, những người hay giúp đỡ, không làm tôi phật lòng. Khi nói đến quà, tức là nói đến kết quả của tình yêu, vì yêu thương hay vì một công trạng nào đó mà người ta mới tặng quà, biếu quà. Trước mặt Thiên Chúa xét về công trạng thì chúng ta chẳng có gì cả, nhưng vì chữ yêu mà Ngài đã ban tặng cho chúng ta những món quà đó. Vấn đề là ở chỗ, thái độ của tôi đón nhận những món quà đó như thế nào? Tôi vui vẻ chấp nhận, hay chấp nhận nhưng không được hài lòng? Hay tôi đã khước từ? Tôi thấy cần luôn nhắc nhở bản thân “nhìn ra thánh ý Chúa đối với mình qua mỗi tha nhân- mỗi ‘quà tặng’ mà Chúa gửi đến cho tôi trong từng phút giây, từng môi trường tôi được hiện diện”.

2. Cầu nguyện
Lạy chúa, xin cho con biết noi gương thánh Emmanuel can đảm tuyên xưng đức tin bằng đời sống chứng tá của mình qua cung cách phuc vụ anh chị em. Xin cho ngọn lửa yêu mến mãi cháy sáng trong tâm hồn con, hầu mọi người nhận ra sự hiện diện của Chúa trong từng nơi con đi và mỗi bước chân con đến. Xin tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa luôn hiện diện và ở cùng con trên mọi bước đường, để dẫu bước đường còn nhiều chông gai, con vẫn luôn tin yêu và phó thác vì biết rằng đích điểm của đời mình là Thiên Chúa tình yêu.
Thay lời kết, tôi xin mượn lời của Thánh Phan-xi-cô Assisi: “Lạy Chúa, xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm...”Amen.
                                                           
Maria Đinh Thị Mưa


 
114.864864865135.135135135250